Tin Tức Giáo Hội Công Giáo Hoàn Vũ


Bạo lực, trong mối tương quan với chính trị

Nguyễn Đức Cung
Nguồn: vietcatholic.net

Mỗi một cá nhân hay một tập thể quen sử dụng bạo lực đều được thúc đẩy bởi những nguyên nhân tâm lý hay sinh lý liên hệ qua huyết thống gia đình, môi trường giáo dục hay phạm trù ảnh hưởng xã hội. Nếu một người có cá tính hiền lành, dịu dàng thì chắc chắn con cái phần nhiều mang lấy những đức tính tốt của kẻ đó. Trong một gia đình có truyền thống đạo đức, gương mẫu, có căn bản giáo dục đường hoàng thì con cái tất nhiên cư xử đúng khuôn phép lễ giáo, nhờ đó ít khi bạo lực xảy ra trong đời sống gia đình. Dĩ nhiên cũng có một vài trường hợp cá biệt nhưng đó chỉ là ngoại lệ.

Một nhà tâm lý học nổi danh danh đầu thế kỷ 20, E.L. Thorndike (1903) đã nhận xét rằng trong cuộc chạy đua đầy tính cách thực tế của đời sống, yếu tố quyết định hơn cả đó là yếu tố di truyền (heredity) nhưng một nhà tâm lý khác, John B. Watson (1925) lại quả quyết rằng cứ đưa cho ông một lô các trẻ em khỏe mạnh, được nuôi nấng đầy đủ, và với phong cách riêng của ông, ông sẽ huấn luyện để chúng trở thành bất cứ hạng chuyên viên nào từ bác sĩ, luật sư, nghệ sĩ ngay cả hạng ăn mày hay kẻ cắp không cần để ý đến tài năng riêng, khả năng, thiên hướng, xu thế, kể cả yếu tố nòi giống tổ tiên. (Carol Tavris & Carole Wade, Psychology In Perspective, Nhà xuất bản HarperCollins College Publishers, 1995, trang 67).

Đối với vấn đề bạo lực, bài học lịch sử cho thấy, như trong trường hợp những người cướp được chính quyền tại Việt Nam từ năm 1945 đến nay chẳng hạn, gốc gác của nó có thể nói xuất phát từ cả hai nguồn : một là từ huyết thống gia đình và hai là do sự thủ đắc bởi môn phái được huấn luyện có lớp lang, bài bản hẳn hòi và nhất là có kinh nghiệm đầy đủ từ khối cộng sản Liên Xô và Trung Quốc. Để thấy rõ hơn bản chất của bạo lực ta không thể không lấy trường hợp của Hồ Chí Minh làm thí dụ phân tích điển hình.

Cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh đã hun đúc, uốn nắn ông thành con người của bạo lực vì ảnh hưởng của huyết thống gia đình, và có trường phái rõ ràng nhưng lại được che dấu dưới rất nhiều lớp sơn do kỹ thuật và chính sách sùng bái cá nhân, thần thánh hóa lãnh tụ của guồng máy cai trị thực hiện, và do chính sách kiểm duyệt bịt miệng sách vở báo chí để sự thật không được tiết lộ ra bên ngoài.

Trước hết là việc thân phụ Hồ Chí Minh là Nguyễn Sinh Sắc, quê làng Kim Liên tục gọi làng Sen thuộc huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, đỗ phó bảng năm 1901, làm Thừa biện bộ Lễ từ năm 1902 đến 1909, rồi được bổ tri huyện Bình Khê (Bình Định). Ông Sắc vốn nghiện rượu mà nghiện đã từ lâu khi còn làm việc ở Huế, nên thường hay say. Theo lời bà Nguyễn Thị Thanh là chị ruột của Hồ Chí Minh thì ông Sắc cứ mỗi lần lên cơm thèm rượu hay say rượu thường hay đánh bà bằng roi hay bằng tay rất tàn nhẫn (Bùi Tín, Mặt thật, Hồi ký chính trị, Nhà xuất bản Saigon Press, Paris, 1993, trang 95). Vào tháng 5-1909, ông Sắc được bổ Tri huyện Bình Khê lúc 47 tuổi. Vào tháng 1-1910, trong một cơn say rượu, Tri huyện Sắc đã dùng roi và gậy đánh một nông dân tên Tạ Đức Quang đến mức anh này bị chết. Thật ra một vị quan huyện không có quyền tra tấn người dân, nhưng đàng này ông Sắc lại làm chuyện tra tấn tức là bản chất ông vốn thích và đã quen với việc sử dụng bạo lực rồi. Sở Mật thám Pháp cho tiến hành cuộc điều tra : rõ ràng là tội cố sát nhưng vì ông Sắc đánh người lúc say rượu nên là mang tội ngộ sát. Bị thân nhân người chết vào đơn kiện và triều đình đáng lẽ xử phạt ông Sắc 100 trượng và cách chức nhưng vì tôn trọng học vị Tiến Sĩ của ông, hơn nữa ông là quan chức to của triều đình nên thượng cấp không nỡ xử nặng tay nên ông được tha đánh trượng mà chỉ bị sa thải ra khỏi ngạch quan lại. (Daniel Hémery, Ho Chi Minh, De l’Indochine au Vietnam, N.x.b. Gallimard, Paris, 1990, trang 7; Thành Tín, Mặt thật, Hồi ký chính trị của Bùi Tín, Nxb. Saigon Press, California, 1993, trang 95; Trần Gia Phụng, Án tích Cộng Sản Việt Nam, Nxb. Non Nước, Toronto, Canada, 2001, trang 336).

Trong một bài nghiên cứu điền dã có tên Lời truyền miệng dân gian về nỗi bất hạnh của một số nhà trí thức Nho gia được in trong cuốn Trong Cõi (Nxb. Trăm Hoa, California, 1993), sử gia Trần Quốc Vượng cho biết ông Nguyễn Sinh Sắc thật sự không phải là con của Nguyễn Sinh Nhậm, mà chính là con của Cử nhân Hồ Sĩ Tạo ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Hồ Sĩ Tạo nguyên là một thày đồ khi ngồi dạy học ở nhà họ Hà, người làng Sài, cùng một xã Chung Cự, tổng Lâm Thịnh, huyện Nam Đàn với làng Sen (Kim Liên), đã phải lòng cô gái ở trong nhà có tài múa hát và lại có nhan sắc tên Hà Thị Hy. Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén, sự dan díu của Cử nhân Hồ Sĩ Tạo với Hà Thị Hy đã khiến cô này “không chồng mà chửa” trong khi đó tai hại thay ông cử Tạo đã có vợ con rồi. Ngày trước, lệ làng rất nghiêm khắc đối với các con gái chửa hoang, nên các hương lý thường đề ra những án phạt nặng nề mang tính sỉ nhục, thí dụ bắt cô con gái chửa hoang nộp tiền phạt vạ, hoặc phải làm các dịch vụ phu phen bêu xấu trước bàn dân thiên hạ như quét đình, quét chợ v.v… vì cho đó là hạng “gian phu dâm phụ” cốt để răn đe người khác. Cha mẹ cô Hy (còn có tên cúng cơm là cô Đèn) bèn liệu cách thương lượng với một anh thợ cầy trong xã vốn đã cao tuổi mà goá vợ tên là Nguyễn Sinh Nhậm để tránh tai tiếng cho gia đình nghĩa là “cho không” cô con gái đã lỡ … mang bầu này. Sự việc này nhiều người ở làng Sen biết nhưng họ để bụng không ai nỡ nói ra, nhất là khi ông Hồ lên làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa thì sự việc đó lại trở thành điều cấm kị (tabou), lại không ai dám mở miệng vì sợ. Trong một cuốn truyện tiếng Anh có tên Life and death in Shanghai đã được dịch ra tiếng Việt với tên Sống và chết ở Thượng Hải, tác giả Cheng Nien (Trịnh Khắc Niệm?) viết rằng: “Ở xã hội xã hội chủ nghĩa, cuộc đời của các lãnh tụ cộng sản được coi là một “bí mật quốc gia”. (Nxb. Văn Nghệ, TP Hồ Chí Minh, 1989).

Sử gia Trần Quốc Vượng là một người mà nhà văn Viên Linh đã viết một bài tưởng nhớ đăng trên Web Talawas ( ngày 28.9.2005) nhân 49 ngày ông qua đời (08-8-2005 – 27-9-2005) có tên “Trần Quốc Vượng, tính trời nết đất”. Tác giả Viên Linh cho biết đôi nét về tiểu sử như sau: “Giáo sư Trần Quốc Vượng là một trong hai cao đồ của cố học giả Đào Duy Anh, và là người duy nhất có thâm niên 45 năm với Khoa Sử tại Đại học Hà Nội kể từ khi khoa này được thành lập năm 1956. Cũng năm này ông đỗ thủ khoa Sử Địa (vì học dự bị Đại học từ trước) và được Tiến sĩ Nguyễn Văn Huyên chỉ định đứng ra thành lập ngành Khảo cổ học của Khoa Sử Việt Nam. Ông sinh năm 1934 ở Hải Dương, nhưng quê gốc Phủ Lý, Hà Nam; từng là chủ tịch Hội sử gia Việt Nam, mặc dầu không gia nhập Đảng Cộng sản. Giáo sư Vượng là người đã tìm ra di chỉ Thành Cổ Loa, khai quật Hội An tìm ra sắc thái Chàm sớm, tác giả gần 50 đầu sách, trên 800 bài báo, 48 đề cương, 50 bài giảng bằng tiếng nước ngoài, được mời đi nghiên cứu và giảng dạy ở nhiều nước, trong đó có một năm, năm 1991, ở Đại học Cornell, New York, Hoa kỳ.”

Ở phần trên tôi có trích dẫn bài viết thuộc loại “kinh nghiệm điền dã” về ông nội của Hồ Chí Minh là Hồ Sĩ Tạo chứ không phải Nguyễn Sinh Nhậm. Nhà văn Viên Linh cho biết sử gia Trần Quốc Vượng sau khi đưa ra bài nghiên cứu đó đã bị nhà nước trục xuất ra khỏi căn nhà B8A R/510 Khu Kim Liên là khu nhà dành cho các giáo sư đại học vào hàng đẳng cấp cao, như là “ một cách tước bỏ ân sủng” (?), biện pháp trả thù của chế độ vì đã dám “xúc phạm lãnh tụ”. Nhà văn Viên Linh cho biết: “Chân dung Trần Quốc Vượng dễ vẽ. Song con người Trần Quốc Vượng khó tìm. Không văn hoa không sáo ngữ, trong một thời đại hà khắc hiểm độc, con người kiểm soát đe nẹt nhau từ miếng ăn, manh áo, từ thìa đường, quả trứng, đến nỗi vào thế kỷ XXI, trước sự ra đi của một trong tứ trụ đại khoa, một giáo sư khoa bảng ở Hà Nội là ông Đỗ Văn Ninh, đã trả lời đài BBC như sau về vị đồng nghiệp vừa mãn phần, không nguyên văn nhưng ý đúng: “Ông ấy nói những lời dại dột. Nhà nước đãi ngộ ông ấy nhiều hơn là ông ấy đáng được hưởng…”Cái nghĩa tận của văn hóa sống người Việt, qua câu nói ấy của một trí thức lớn vừa qua đời, nghe thấy cái tanh tưởi của nước miếng, sự ung thối của nhân tính trong một trại súc vật nhớn nhác tranh công, hình dung bởi George Orwell từ thế kỷ trước.”

Vào một ngày tháng 8 năm 1985, tôi đang ở tù trại Nam Hà ( Ba Sao) Hà Nam Ninh thuộc diện “ngụy quyền” nghe trại loan báo sẽ có một ngày học tập tổ chức cho các tù nhân chính trị Miền Nam do Bộ Nội Vụ về chủ trì. Chủ đề ngày học tập là “Việt Nam 40 năm, bốn nghìn năm”. Tôi tìm cách “trốn” bằng lối khai bệnh vì chúa ghét những buổi học tập như vậy. Toàn lải nhải luận điệu cũ rích và chưởi bới mất dạy. Nhưng buổi trưa giờ giải lao, anh bạn đồng tù nay cư ngụ tại Massachussett là Cựu Trung Tá Bùi Thế Dzung về phòng cho tôi biết sáng nay ông Trần Quốc Vượng nói rất hay, với thái độ rất kính trọng đối với anh em tù nhân thuộc chế độ VNCH. Nghe tên Trần Quốc Vượng, tôi bật dậy khỏi chỗ nằm cùng theo đi nghe ông Vượng nói. Trước đó ông Trần Quốc Vượng đã yêu cầu Ban Giám Thị Trại xếp trong hội trường tất cả các ghế có lưng dựa để anh em ngồi lịch sự, thoải mái chứ không như các lần trước đây chúng tôi phải ngồi băng ghế hoặc có khi phải ngồi xuống đất. Nghe ông TQV kêu các nhân vật cao cấp trong Bộ Chính Trị lúc bấy giờ bằng “anh”, tôi thấy vẻ sửng sốt thoáng qua trên khuôn mặt của một vài nhân viên trong Ban Giám Thị Trại như tên trung úy Quốc lầu bầu “phản động, phản động” khi nghe sử gia Trần Quốc Vượng nói chuyện. Ông Vượng kể chuyện về cuộc khởi nghĩa của Lê Lợi với những thành phần như bọn Lê Chích vốn là những tay xuất thân từ nghề hạ tiện như chăn chó, chăn heo, sau khi Lê Lợi thành công thì được tin dùng còn những người có công thì bị trù dập, thủ tiêu. Ông Vượng dùng chuyện sử ngày xưa để ám chỉ chuyện Cộng Sản sau năm 1975. Các nhân vật hôm nay như Lê Duẩn gốc công nhân Sở Hỏa Xa Đông Dương, Đỗ Mười xuất thân hoạn lợn, Xuân Thủy làm nghề lang băm, Trường Chinh thư ký nhà nước bảo hộ v.v…cũng không cao sang gì hơn người đời xưa.

Đọc bài viết của nhà văn Viên Linh, tôi thấy ông có nhắc lại sự việc đó như sau: “Triều đại Hồ Chí Minh tương tự triều đại Lê Lợi. Khi diệt xong quân Minh, Việt Nam Tầu hóa nhiều hơn các triều đại trước. Thú săn được rồi thì bẻ ná. Hại công thần cũng có, mà địa phương tính thì nhiều hơn. Lời thề Lũng Nhai ai còn nhớ. Kháng chiến chống Tây đâu mất rồi. Thời Lê mạt, Kiêu binh Thanh Nghệ đại náo kinh thành. Thời này cũng thế, đầy đường phố Hà Nội là anh em khu tư khu năm.” Tuy nhiên theo Viên Linh, “Một trong những cuốn sách giá trị nhất của giáo sư Trần Quốc Vượng là cuốn Trong Cõi xuất bản trong khoảng thời gian ông ở Hoa Kỳ. Chính xác là vào tháng 1.1993. Với cuốn này ông là người tiên phong trong Phong trào đấu tranh dân chủ cho Việt Nam. Những gì trong đầu thế kỷ XXI ta nghe nói từ cac1 ông Hoàng Minh Chính, Trần Độ, Phạm Quế Dương, Nguyễn Thanh Giang tôi thấy giáo sư Vượng đã viết ra từ đầu thập niên 90 của thế kỷ trước. Tuyệt nhất, Trần Quốc Vượng chính là người phất cờ hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh với bài “Lời truyền miệng dân gian về nỗi bất hạnh của một số nhà trí thức Nho gia (kinh nghiệm điền dã).”

Xin nghe tiếp những lời của nhà văn Viên Linh: “Thật tuyệt. Giáo sư Vượng vào những trang cuối cho biết, vào lúc ấy, rằng ông sắp viết ra một chuyện CHƯA TỪNG AI VIẾT. Nhiều người biết, nhưng chưa ai dám viết ra, “Vì người ta SỢ.” (trang 253). Có nghĩa là Vượng này không sợ. Ấy là chuyện bố ông Hồ, Nguyễn Sinh Huy, thực ra không phải là dòng dõi Nguyễn Sinh làng Kim Liên (như chính sử đã nói) mà là CON MỘT NGƯỜI KHÁC, ở làng khác. Viết sử như Trần Quốc Vượng, chưa bị thiến như Tư Mã Thiên là còn may lắm.”

Trong lịch sử cận đại Việt Nam có lẽ cũng không thiếu gì tấm gương quật cường của những người làm cách mạng trong các chính đảng quốc gia, các nhà lãnh đạo đất nước chống lại đường lối bạo lực của Việt Minh Cộng Sản. Họ tỏ ra có bản lãnh và dường như không biết sợ là gì. Sau đây xin đọc những dòng chữ tâm huyết của Linh mục sử gia Nguyễn Phương viết về Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm :

“Tháng 2 năm 1946, Hồ Chí Minh trải qua một cơn khủng hoảng lớn, bị kẹt cả với Lư Hán, cả với d’Argenlieu. Hơn bao giờ hết, ông cần một người quốc gia chân chính, chẳng những để làm bình phong cho ông trước mặt quốc tế, mà còn để có thể hô hào nhân dân trong nước ủng hộ. Nhìnquanh với cặp mắt tinh đời của ông, ông vẫn không tìm được ai hơn cụ Ngô Đình Diệm, kẻ đã bị cán bộ ông bắt giam ở mạn ngược, nhưng lúc đó đang được đem về khám Hà Nội để điều trị bệnh sốt rét. Ở Phủ Chủ Tịch nhà nước, khi đối diện Hồ Chí Minh và nghe ông này đề nghị tham chính, cụ Diệm đã không ngần ngại nói:

“-Không thể được, Ông có chính sách cứu nước của ông, và tôi có chính sách của tôi. Ông có cam đoan được rằng ông sẽ bỏ thuyết vô sản chuyên chính không? Khắp nơi, cán bộ ông đang thi hành thuyết đó. Họ giết hết các nhà quốc gia chân chính. Họ giết cả anh em tôi.”

Đến đây Hồ Chí Minh cảm thấy phải chữa mình. Ông nói: “Vậy mà tôi không hay biết gì cả. Nước đang lâm cảnh loạn ly. Xin ông ở lại với tôi để cùng nhau chống Pháp.” Dường như cả hai người đều hiểu rằng chỉ có vì sợ Cụ Diệm mới chấp nhận. Cụ lớn tiếng: “Ông biết tôi là ai không? Tôi không phải hạng hèn nhát.” Hồ Chí Minh vội vàng nói đỡ: “Không. Ông không hề hèn nhát.” Cụ Diệm tiếp: “Vậy thì để cho tôi đi.” Và Hồ Chí Minh để cụ Diệm ra đi.” Hồ Chí Minh bỗng nhiên tha cụ Diệm, thật là một sự kiện đáng lưu ý. Hỏi tại sao một kẻ, trong năm 1925, đã phản bội cụ Phan Bội Châu, một nhà quốc gia cách mạng, kẻ đã giết Tạ Thu Thâu, cũng là cộng sản như ông, chỉ vì sợ họ đối lập với ông, lại có thể trả tự do cho cụ Diệm, đang khi cụ ở dưới quyền sinh sát của ông? Tại sao cụ Diệm, một tù nhân lại có thể lên án Cộng sản trước mặt Hồ Chí Minh, một tên trùm Cộng sản, mà ông không trừ cụ đi để ngừa nhiều khó khăn về sau? Phải chăng Hồ Chí Minh kính nể cụ Diệm, vì mong rằng Cụ có thể cứu nước, trong khi chính mình ông đang kẹt nhiều đàng?” (Nguyễn Phương, Sơ lược về thân thế & sự nghiệp của Cố T.T. Ngô Đình Diệm, Văn Nghệ Tiền Phong, số 118, tr. 8).

Từ năm 1945, người Cộng Sản đã sử dụng bạo lực để thanh toán các thành phần đối lập, lý do vì họ sợ. Họ đã công khai hay bí mật dùng cái gọi là bạo lực cách mạng để thủ tiêu các chính đảng quốc gia như Đại Việt, Việt Quốc, Duy Dân, Dân Xã, các nhân vật Công Giáo, Phật Giáo có uy tín trong quần chúng, tạo nên bầu không khí tang tóc trùm phủ khắp mọi nơi phố phường cũng như thôn quê. Các điệp khúc “thà giết lầm hơn bỏ sót”, “giết người là kỹ thuật cầm quyền bình thường” vốn là những châm ngôn hành động của người cộng sản.

Tuy nhiên trong chính trị cái sợ mỗi thời điểm khác nhau nhưng vẫn mang chung một bộ mặt. Cái sợ của thời đảng tranh 1945-46 mang tử khí u uất, bí mật rờn rợn của những con người bị trùm bao bố thả trôi song mà đa số là cán bộ, đảng viên Đại Việt, Việt Quốc, Việt Cách v.v… dĩ nhiên cũng không khác gì niềm kinh hãi qua những cái chết của hàng trăm nghìn người dân lương thiện nhưng vẫn bị gán cho tội địa chủ, phú nông hay trung, tiểu nông hãi hùng, thờ thẩn, bị bao vây cô lập nhiều ngày trong ánh đuốc bập bùng, giữa tiếng trống ếch của những bầy con nít trợ đấu trong các đợt Cải cách Ruộng đất được coi là long trời lở đất ở các vùng nông thôn Miền Bắc từ những năm 1953-56. Sự hãi hùng của một thành phố Huế chỉ rơi vào trong tay Cộng Sản 25 ngày mà thôi trong Tết Mậu Thân năm 1968 cho đến nay vẫn còn ám ảnh người dân Miền Trung qua báo chí, sách vở dù những tay đầu sõ giết người như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân v.v… vẫn còn nhởn nhơ sống nhưng không dám can đảm nhận trách nhiệm của mình. Cái sợ của người dân Quảng Trị trên đại lộ kinh hoảng tháng 4 năm 1972 cũng không khác chi cái sợ của người dân Bình Long Phước Long trong các đợt di tản, bỏ phiếu bằng chân trước ngày Miền Nam hoàn toàn thất thủ. Họ ghê tởm chế độ Cộng Sản nhưng đành phải chấp nhận vì không có con đường nào khác.

Gần đây, vấn đề sợ hãi trong chính trị lại được một ít người quan tâm đề cập đến nhưng với quan điểm khác nhau chẳng hạn Luật gia Lê Hiếu Đằng cho rằng qua vụ cưỡng chế đất ở Văn Giang, hành động trấn áp chứng tỏ chính quyền hiện nay rất yếu và sợ dân. Có một số quan điểm được phát biểu, trình bày cùng có chung nhân định như vậy là chính quyền đang sợ nhân dân của nước mình. Tuy nhiên trên Web ProContra, nhà văn Phạm Thị Hoài hoàn toàn không đồng ý. Bà nói rằng: “Tôi rất muốn đồng ý với những nhận định đó, vì ưu thế - ít nhất là ưu thế tâm lí - dường như nghiêng hẳn về phía người dân, nếu sự sợ hãi trong xã hội cộng sản mạt kì tại Việt Nam hiện nay là thuộc tính của riêng phía chính quyền, là nền tảng hay phương pháp tự bảo vệ chỉ của chính quyền. Nhưng tôi chắc chắn rằng người dân ở Việt Nam không có cái ưu thế đó. Ngược lại. Chế độ này, dù yếu hay mạnh, được đặt nền móng và bảo vệ trước hết bằng sự khiếp nhược của người dân. Chừng nào còn vững tin vào hiệu quả của sự khiếp nhược này, chính quyền còn cho phép mình ngang nhiên và tùy tiện hành xử bất chấp tất cả chứ không riêng gì bất chấp lí lẽ của một người bất đồng chính kiến hay bất chấp bi kịch của mấy trăm gia đình nông dân. Chừng nào nhận thấy sự khiếp nhược này bắt đầu có dấu hiệu sứt mẻ, việc đầu tiên và đương nhiên mà chính quyền tiến hành là củng cố và gia tăng sự khiếp nhược đó. Không phải nỗi sợ của chính quyền, mà sự khiếp nhược của người dân mới là điều đáng bàn.” (Tháng 7, 5, 2012).

Trong lãnh vực tôn giáo, người ta chú ý đến thông điệp của Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II khi vừa đăng quang “Đừng sợ mở cửa ra cho Đức Ki-tô…” Từ đó hai chữ “Đừng sợ” (Be not afraid) trở thành phương châm hành động của người Công Giáo ở Ba Lan và nhiều quốc gia Đông Âu. Ở Ba Lan, người Công Giáo chiếm đa số đến 95% dân số toàn quốc cho nên họ vững tâm hơn trong công cuộc đấu tranh lật đổ chế độ Cộng Sản. Họ đã tổ chức được Công đoàn Đoàn Kết, có lãnh tụ Lech Walesa xuất thân trong giới thợ thuyền có bản lãnh và chương trình hành động. Ảnh hưởng và uy tín của Đức Cố Giáo Hoàng trùm phủ đất nước Ba Lan và thế giới. Vì thế dân tộc Ba Lan đã có được tự do và dân chủ.

Gần chúng ta hơn là trường hợp Miến Điện cũng là một quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề của tôn giáo đó là Phật Giáo. Miến Điện lại may mắn có một lãnh tụ rất xuất sắc nổi danh thế giới đó là Bà Aung San Suu Kyi, con gái của Tướng Aung San là một lãnh tụ của nền độc lập Miến Điện. Trong một bài diễn văn gửi tới Nghị Viện Âu Châu tại Strasbourg khi được trao giải thưởng Sakharov vì Tự Do Tư Tưởng mà bà không hiện diện được, Bà đã viết: “Một dân tộc muốn xây dựng một đất nước mà trong đó các thể chế dân chủ mạnh được xây dựng bền vững như là một bảo đảm chống lại sự lạm quyền của nhà nước thì trước hết phải học cách giải phóng tâm mình khỏi sự vô cảm và sự khiếp sợ.” (Aung San Suu Kyi, Tự do khỏi nỗi khiếp sợ, Tiểu lau65n của bà phổ biến nhân dịp bà được trao giải thưởng Sakharov vì Tự Do Tư Tưởng do Nghị Viện Âu Châu trao tặng trong cuộc lễ ngày 10.6.1991 không có sự hiện diện của bà). Sự vô cảm là thái độ lạnh lùng, bình thản trước nỗi đau khổ, thiếu thốn của tha nhân, của dân tộc trước sự lộng hành của bạo quyền, là thái độ “bình chân như vại”, “thủ khẩu như bình” trước những bất công của xã hội không dám lên tiếng. Sự vô cảm chính là sự đồng lõa với bạo lực, với cường quyền, là a tùng với bọn cướp ngày (cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan), là thái độ ích kỷ chỉ biết bo bo giữ gìn quyền lợi, tài sản của mình, giúp cho bạo quyền vĩnh viễn tồn tại trên nỗi thống khổ triền miên của cả một đất nước.

Thời gian gần đây, đất nước Miến Điện đang viết trang sử mới, còn dân tộc Việt Nam thì đến bao giờ mới có được bình minh?

Philadelphia 31-7-2012

Trang nhà

Tin tức Giáo Hội