|
Nếu việc Chúa Giêsu muốn tỏ Mẹ của Ngài ra trong thời
tận thế này có liên hệ đến thời điểm của nước Nga nói riêng và lý thuyết
CS nói chung, thì, phải chăng, CS chính là tiền hô của qủi vương?
Nói cách khác, nếu sự xuất hiện của Mẹ Maria, như Đức Thánh Cha Piô XII
ngày 2/7/1948 đã viết cho cha Ranson, giám đốc của phong trào Đại Phục
Hồi (Great Return) ở Pháp: “Trong bóng đêm đang đè nặng trên thế giới,
chúng ta thấy Rạng Đông bừng lên, báo hiệu chắc chắn về sự xuất hiện của
Mặt Trời chân thật, công chính và yêu thương” (TWTAF3:117), thì, phải
chăng, CS cũng chính là dấu hiệu báo trước sự xuất hiện của qủi vương
vào thời tận thế?
Năm 1848, tập The Communist Manifesto của Karx Marx viết chung với
Engels được xuất bản. Tập sách này tuy ngắn, song vẫn được coi là một
cuốn cẩm nang của thuyết Mát-Xít, một thuyết cho rằng lịch sử là một
chuỗi đấu tranh giữa các tầng lớp trong xã hội, mà cuối cùng tấng lớp
lao động sẽ lật đổ tầng lớp quản trị trung lưu, để lập thành một xã hội
vô giai cấp do nhà nước làm chủ việc sản xuất của nhân dân và điều hành
việc tiêu thụ cho nhân dân.
Trước đó 18 năm, tức vào năm 1830, Đức Mẹ đã hiện ra với chị thánh
Catarina Labuarê ở Ba-Lê, nước Pháp, truyền dạy phổ biến bức ảnh hình
trái xoan bằng kim loại, trên đó có hàng chữ bằng vàng: “Ôi Maria, đầu
thai vô nhiễm nguyên tội, cầu cho chúng con là kẻ chạy đến cùng Mẹ”.
Năm 1864, Karx Marx thành lập Hiệp Hội Lao Nhân Quốc Tế (The
International Workingmen's Association), với mục đích cải tiến đời sống
của tầng lớp lao động và cũng để sửa soạn cho cuộc cách mạng xã hội.
Năm 1867, Karx Marx cho xuất bản cuốn thứ nhất của bộ Das Kapital, một
bộ sách cho rằng sinh hoạt thị trường tự do rất hiệu nghiệm song cũng
rất nguy hiểm khi gặp thời kỳ kinh tế bị trầm trọng lạm phát và khủng
hoảng, nhất là khi mức độ giầu có tạo được từ sinh hoạt thị trường tự do
này không biết sử dụng sẽ càng tạo nên nhanh chóng sự khốn cùng trong xã
hội loài người.
Trước đó 6 năm và 9 năm, tức vào năm 1858, Đức Mẹ đã hiện ra ở Lộ Đức,
nước Pháp, với chị thánh Bernađét, tự xưng mình “Ta là Đấng Vô Nhiễm
Nguyên Tội”.
Năm 1917, Lenin về nước để cùng với đảng Bolsheviks thực hiện cuộc cách
mạng và thành lập đảng CS năm 1818 theo lý thuyết của Karx Marx. Lenin
đã tuyên bố: “Đường lối khủng bố là đường lối duy nhất đối với chúng ta,
một đường lối mà không thể nào chúng ta không dùng đến” (TWTAF:450). Kết
quả là, theo thống kê được phổ biến vào năm 1922 của đức hồng y Mercier:
“Từ tháng 11/1917, có 260 ngàn tù phạm binh sĩ thường và 54 ngàn quân
nhân; 18 ngàn điền chủ; 35500 nhà trí thức, 192 ngàn thợ thuyền; 815
ngàn canh điền; 28 giám mục và 1215 linh mục bị giết” (TWTAF2:451).
Cũng trong năm 1917, Đức Mẹ đã hiện ra với ba Thiếu Nhi tại Fatima, một
trong những mục đích của Mẹ là hứa sẽ đến để xin dâng hiến Nước Nga cho
Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ. Vào ngày 13/6/1929, quả thật Đức Mẹ đã
đến và nói r "đã đến lúc Chúa muốn Đức Thánh Cha hợp cùng các giám mục
trên thế giới hiến dâng nước Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ,
Ngài hứa sẽ cứu Nước Nga bằng cách đó" (FILOW:200).
Cũng bắt đầu từ năm 1929, Liên Bang Sô Viết do Stalin lãnh đạo với bàn
tay sắt và nạn CS cũng bắt đầu lan ra các nước. Ngày 15/5/1932, Stalin
đã bắt đầu dự án 5 năm chống đối tôn giáo với ý định vào ngày 1/5/1937,
sẽ không còn một tư tưởng nào về Thiên Chúa nữa. Trong thông điệp
Caritate Christi, Đức Thánh Cha Piô XI đã phải than lên:
“Khốn cho nhân loại một khi Thiên Chúa bị tạo vật của Ngài xúc phạm đến
nỗi, theo sự công chính của Ngài, Ngài ban cho làn sóng hủy diệt này
quyền tự do thống trị khi Ngài dùng nó như cái roi để trừng phạt thế
giới” (TWTAF2:615).
Trong thông điệp Divini Redemptoris, Đức Thánh Cha Piô XI đã tóm tắt
“nạn CS” trong đoạn văn sau đây:
“CS, hơn thế nữa, còn bóc lột tự do của con người, cướp đoạt tất cả nhân
vị của con người, và loại trừ mọi ràng buộc luân lý cần có trong việc
kiềm chế các lũng đoạn của dục vọng mù quáng” (AC,10).
Như thế, nếu Mẹ Maria là Rạng Đông của Mặt Trời Công Chính là Chúa Kitô,
cần phải đến trước để dọn đường cho Chúa đến lần thứ hai, thì sự xuất
hiện trùng hợp giữa Mẹ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội và CS ngay từ đầu đến
nay phải chăng là một ám chỉ CS là tiền hô của qủi vương?
Nếu CS là tiền hô của qủi vương, chắc chắn nó phải có liên hệ với ma qủi
nói chung và qủi vương nói riêng. Trong thông điệp Divini Redemptoris,
Đức Thánh Cha Piô XI đã coi CS tương tự như một thần ô uế ám vào nhân
tính con người mà chỉ “được khống chế bằng chiến dịch cầu nguyện và
thống hối chung thế giới” (AC:59).
Trong thư gửi toàn thể các giám mục trên thế giới vào ngày 1/7/1937,
hàng giáo phẩm Tây Ban Nha đã nhận định như sau: “... Sự ghen ghét Chúa
Giêsu Kitô và Đức Mẹ đã lên đến cực điểm. Người ta có thể tưởng tượng sự
ghen ghét của hỏa ngục đã nhập vào trong những người CS bất hạnh của
chúng ta, bằng việc hạ nhục hàng trăm cây thánh giá, bằng việc làm như
loài vật khi tục hoá những ảnh tượng Đức Mẹ, bằng việc dán ở trung tâm
thương mại Bilbao những bích chương xỉ nhục phạm đến Mẹ Thiên Chúa, bằng
việc viết bênh vực phe Đỏ trong khi chê cười những mầu nhiệm thần linh ở
chỗ làm tục hóa phép Thánh Thể... Những hình thức tục hóa này không thể
nào tin là có thể xẩy ra nếu chúng không do những xúi giục qủi ma”
(TWTAF2:651).
Trong thông điệp Divini Redemptoris, Đức Thánh Cha Piô XI đã đặc biệt
kêu gọi các đan sĩ nam nữ “cũng hãy khẩn nguyện sự cầu bầu quyền năng
của Đức Trinh Nữ Vô Nhiễm Nguyên Tội, Đấng đã đạp nát đầu con rắn xưa,
mãi là Đấng Bảo Hộ vững vàng cùng là Sự Trợ Giúp không cùng của Kitô
hữu” (TWTAF2:59).
Tuy nhiên, nếu CS chủ trương vô thần thì làm sao có thể là tiền hô cho
qủi vương là kẻ, dù không tự nguyện nhận biết Ngài, song vẫn không thể
chối cãi về thực tại thần linh là Thiên Chúa hiện hữu, toàn chân, toàn
thiện, toàn mỹ và toàn năng?
Thật ra, chính vì CS chủ trương vô thần mới đúng là tiền hô của qủi
vương. Bởi vì, đường lối qủi vương dùng để có thể hoàn toàn thống trị
thế gian là làm sao cho Thiên Chúa bị phủ nhận, truất phế, hạ bệ trước
đã. Nếu “Thiên Chúa là Ánh Sáng” (1Gn 1:5) còn đó thì bóng tối sự chết
mà ma qủi là hiện thân làm sao có thể hành động được. “Mọi kẻ làm dữ thì
ghét ánh sáng; họ không dám đến gần ánh sáng vì sợ việc làm của mình bị
bại lộ” (Gn 3:20) là thế.
Trong vườn địa đường, để làm cho bà Evà đang là con cái Thiên Chúa, con
cái sự sáng trong sự công chính nguyên thủy, trở nên con cái ma qủi, con
cái tối tăm trong tội lỗi, ma qủi cũng đã làm cho bà trở nên vô thần đã,
khi gợi lên trong bà những tư tưởng duy vật là các lợi lộc từ cây trái
cấm mà bà vốn ước vọng. Quả nhiên, Thánh Kinh đã tóm tắt hành động vô
thần duy vật của bà Evà sau khi nghe ma qủi cám dỗ như sau: “Người
nữ thấy trái cây ngon lành đẹp mắt lại muốn được nên khôn ngoan. Do đó,
bà đã hái ít trái mà ăn” (STK 3:6).
“Vô thần duy vật” đúng là bản chất, là chân tướng của CS, tiền hô của
qủi vương.
Đức Thánh Cha Piô XI đã vạch trần bộ mặt của CS, tiền hô của qủi vương,
kẻ chủ trương vô thần duy vật, trong thông điệp Divini Redemptoris như
sau:
“Theo giáo điều này (CS), thế gian chỉ có một thực tại, đó là vật chất,
là những năng lực mù quáng chi phối cả thực vật, động vật lẫn con người.
Ngay cả xã hội loài người cũng chẳng là gì khác ngoài hiện tượng hình
thành của vật chất, được xoay vần cùng một kiểu cách. Bởi định luật xoay
vần khẩn thiết và qua sự tương phản liên lỉ giữa các năng lực, vật chất
tiến đến một tổng hợp chung kết là một xã hội vô giai cấp. Với một giáo
điều như vậy, r ràng là ý tưởng về Thiên Chúa không còn nữa; không còn
khác biệt giữa vật chất và tinh thần, giữa linh hồn và thân xác; không
còn cả sự sống đời sau của linh hồn sau khi chết và không còn hy vọng gì
ở cuộc sống mai hậu. Chủ trương một triết thuyết thiên về duy vật như
thế, những người CS cho rằng những tương phản xẩy ra trên thế gian để
tiến đến một tổng hợp chung kết của nó là do con người phát tiến. Do đó,
họ nỗ lực làm sao để làm cho những cuộc chống chọi giữa các tầng lớp
trong xã hội gay cấn hơn. Vậy, sự tranh đấu giữa các tầng lớp mà hậu quả
của nó là sự hủy hoại và thù ghét bạo tàn được coi như một chiến dịch
trong việc phát triển nhân loại. Đàng khác, tất cả các lực lượng khác
bất kể, chừng nào còn phản kháng lại tổ chức tranh đấu này đều phải bị
hủy diệt như kẻ thù của nhân loại” (AC:9).
Trong lịch sử của loài người, chưa có một tai họa nào rùng rợn và kinh
hoàng cho định mệnh của chung thế giới bằng nạn CS. Chính bản chất vô
thần duy vật và đường lối hận thù sắt máu tột độ ngùn ngụt bùng lên từ
hỏa ngục này của CS nhắm vào loài người được dựng nên theo hình ảnh
Thiên Chúa nói chung và đối với đặc biệt Giáo Hội là thân mình mầu nhiệm
của Thiên Chúa nhập thể nói riêng, có thể khẳng định rằng CS chính là
tiền hô của qủi vương.
Khi Gioan Tẩy Giả rao giảng về "Đấng đến sau" ông là Chúa Giêsu Kitô,
thì Chúa Kitô sắp xuất đầu lộ diện, và khi lộ diện, Ngài phải được chính
Gioan Tẩy Giả nhận biết và giới thiệu cho môn đệ của mình cũng như cho
toàn dân Do Thái nữa. Cũng thế, CS là Tiền Hô của Qủi Vương, đang khi nó
còn "gieo rắc lầm lạc khắp thế giới", thì Qủi Vương thực sự đã có mặt
trên trần gian này rồi. Huống chi, cho đến nay, CS kể như rắn đã mất
đầu, khi Liên Bang Sô Viết hoàn toàn từ bỏ chủ nghĩa và chế độ CS, thì
phải nắm chắc một điều là Qủi Vương sắp bắt đầu hoàn toàn hiện nguyên
hình dạng của hắn.
Nếu Thời Tận Thế là Thời Đại Maria thì Thời Tận Thế cũng là Thời Đại
Satan vậy! |