|
Tại sao cho đến thế kỷ 20 này, vào ngày 13/6 và
13/7/1917, qua Mẹ Maria, Thiên Chúa mới tỏ ý “muốn thiết lập việc tôn
sùng Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ trên thế giới”?
Phải chăng: Đã đến thời tận thế?
Thật vậy, theo thánh Louis Marie Grignion De Monfort, “Ơn cứu rỗi của
thế giới nhờ Mẹ Maria được khởi sự thế nào thì cũng qua Mẹ Maria mà được
hoàn tất như vậy... Là đường để Chúa Giêsu đến với chúng ta lần thứ nhất
thế nào, Mẹ cũng là đường để Ngài đến lần thứ hai như vậy, tuy không
cùng một kiểu cách” (TTSKMM, 49, 50.4).
Như thế, phải chăng, hễ bất cứ lúc nào con người thấy Thiên Chúa bắt đầu
muốn tỏ Mẹ của Ngài ra cho thế giới biết thì lúc ấy chính là thời tận
thế?
Không phải hay sao, tại Fatima, chính Mẹ đã tỏ cho con người biết rằng:
“Thiên Chúa muốn (dùng con, chị Lucia) để làm cho Mẹ được nhận biết và
yêu mến... Thiên Chúa muốn thiết lập lòng tôn sùng Trái Tim Vô Nhiễm
Nguyên Tội Mẹ trên thế giới”.
Do đó, có thể tin rằng đây là thời tận thế vậy!?!
Vả lại, còn một sự kiện nữa có thể chứng minh được rằng đây là thời tận
thế. Đó là sự kiện xuất hiện của Thiên Thần tại Fatima năm 1916, trước
năm 1917 là năm Mẹ hiện ra với ba Thiếu Nhi cũng tại Fatima. Tại sao sự
kiện Thiên Thần hiện ra ở Fatima lại có liên hệ đến thời gian sau hết
của loài người như thế? Bởi vì, trong dụ ngôn cỏ lùng vực, Chúa đã nói
đến vai trò của các thiên thần là “những thợ gặt” (Mathêu 13:39) trong
ngày cuối thời.Trong ngày truyền tin Ngôi Lời nhập thể, tức ngày Chúa
Kitô đến trần gian lần thứ nhất trong, qua và nhờ cung lòng trinh nguyên
của Mẹ Maria, không phải cũng đã có mặt của thiên thần hay sao.
Các thiên thần đã thực hiện sứ mạng làm “những thợ gặt”của mình ở chỗ,
chỉ vẽ cho con cái của Giáo Hội nói chung và cho con cái của Mẹ như ba
Thiếu Nhi được Mẹ tuyển chọn nói riêng, biết hợp cùng Mình Máu Thánh của
Chúa Kitô đã được cấu tạo và hạ sinh bởi Mẹ Maria, để tin yêu Thiên Chúa
thay cho các tội nhân cũng như để đền tạ Ngài cầu cho các tội nhân. Nếu
các con cái của Mẹ làm đúng như lời thiên thần dạy, như Mẹ đã “xin vâng”
như lời thiên thần truyền, chắc chắn các tội nhân sẽ được Thiên Chúa cứu
rỗi. Như thế, không phải là các thiên thần đã gặt hái các linh hồn trong
thời tận thế này hay sao!
Thật sự, theo Thánh Kinh, “thời sau hết” bắt đầu kể từ khi “Ngôi Lời hóa
thành nhục thể và ở giữa chúng ta” (Gioan 1:14): “Vào những thời đã qua,
Thiên Chúa đã dùng các tiên tri mà nói với cha ông chúng ta qua nhiều
thể nhiều cách; vào thời sau hết này Ngài đã nói với chúng ta qua Con
của Ngài..”(Do Thái 1:2).
Bởi thế, những đoạn Thánh Kinh Tân Ước nói về những gì xẩy ra vào “những
ngày sau hết” (2Phêrô 3:3; 2Timôthêu 3:1) hay vào “giờ sau hết” (1Gioan
2:18) không phải chỉ nói đến những gì xẩy ra cho riêng ngày tận thế, cho
bằng nói đến chung những gì xẩy ra cho Giáo Hội kể từ khi Chúa Kitô về
trời. Chẳng hạn, câu “Hỡi các con, vào thời giờ sau hết, như các con đã
nghe thấy những Phản Kitô đã đến, lúc này đây nhiều Phản Kitô như vậy đã
xuất hiện rồi. Như thế là chúng ta nắm chắc được rằng đây là thời giờ
sau hết” (1Gioan 2: 18). Ở đây, Thánh Kinh xác định r “Phản Kitô đã
đến... đã xuất hiện”, vào chính thời những câu văn này được viết ra từ
thế kỷ thứ nhất sau Công Nguyên.
Nếu bắt đầu kể từ khi Thiên Chúa tỏ Mình Ngài ra qua Ngôi Lời nhập thể
và cứu thế được gọi là “thời sau hết”, thì kể từ lúc Chúa Kitô muốn tỏ
Mình Ngài ra qua Mẹ của Ngài, tức muốn Mẹ Ngài được nhận biết và yêu mến
để Ngài, như thánh Louis Maria Grignion De Monfort viết trong cuốn Thành
Thực Sùng Kính: ”Vào lần Chúa Giêsu đến lần thứ hai, Chúa Thánh Thần sẽ
làm cho Mẹ Maria được biết đến và tỏ hiện, để, qua
Mẹ, Chúa Giêsu cũng được nhận biết, yêu mến và phụng sự” (TTDTM,49),
cũng có thể được gọi là “thời tận thế”. Do đó, “thời tận thế” có thể nói
được là “Thời của Mẹ” hay “Thời Đại Maria”.
Đây không phải là Thời của Mẹ Maria, là Thời Đại Maria hay sao? Ba sự
kiện sau đây có thể chứng minh được quả quyết này. Sự kiện thứ nhất là
những lần Mẹ hiện ra (được Giáo Hội chính thức công nhận) từ đầu thế kỷ
19 đến nay. Sự kiện thứ hai là các tín điều về Mẹ được Giáo Hội tuyên
tín và công bố. Và sự kiện thứ ba là phong trào tượng Mẹ Thánh Du khắp
thế giới. Trong chương này chỉ nói đến những lần Mẹ hiện ra từ đầu thế
kỷ 19 mà thôi.
Trong 18 thế kỷ đầu của lịch sử Giáo Hội, Đức Mẹ chỉ hiện ra một số lần,
nếu tổng cộng lại, còn ít hơn số lần Mẹ hiện ra vào khoảng thời gian hai
thế kỷ của “thời tận thế” này. Chẳng hạn: Cuối thế kỷ thứ 12, Mẹ đã hiện
ra hai lần vào năm 1198 và 1199. Năm 1198, với thánh Simon Stock và năm
1199 với thánh Đa- Minh. Với thánh Simon Stock, Đức Mẹ hiện ra tại nơi
ngài ẩn tu 20 năm, vào lúc 12 giờ trưa ngày 12/5, để giới thiệu Áo Đức
Bà và truyền cho đi phổ biến cho người ta. Với thánh Đaminh, Đức Mẹ đã
hiện ra vào tháng 5 khi ngài đang ở một miền núi nước Tây Ban Nha, đưa
cho ngài chuỗi Mân Côi, dạy cho ngài biết sử dụng kinh Mân Côi đẻ làm
khí giới chống bè rối Albigense.
Vào thế kỷ 16, năm 1531, Mẹ hiện ra với Juan ở Guadalup, nước Mễ Tây Cơ
để xin dựng một đền thờ kính Mẹ, nơi mà Mẹ muốn dùng để ban ơn cho những
ai đến cầu khẩn Mẹ.
Vào thế kỷ 17, Mẹ đã hiện ra với chị đáng kính Maria D'Agreda trong
khoảng thời gian 1627-1637 để tỏ và dạy cho mẹ bề trên tu viện thánh
Clara Khó Khăn Mẹ Vô Nhiễm này biết về cuộc đời của Mẹ. Tất cả những gì
được Mẹ mạc khải cho biết, chị đã viết lại thành truyện về cuộc đời Mẹ
với tựa đề Thiên Nhiệm Đô.
Thế mà, kể từ đầu thế kỷ 19, nếu chỉ kể đến những nơi được Giáo Hội
chính thức công nhận, Mẹ đã hiện ra liên tiếp nhiều lần, mỗi lần Mẹ ban
những sứ điệp hệ trọng liên quan đến vận mệnh của riêng một dân nước hay
của chung cả loài người.
NĂM 1830, Ở BA-LÊ, nước Pháp, Mẹ đã hiện ra với một chị tập sinh thuộc
dòng Nữ Tử Bác Ái thánh Vinh-Sơn Phao-Lô là Catarina Labuarê,(vị nữ tu
đã được Đức Thánh Cha Piô XII phong thánh năm 1947 và được Giáo Hội kính
nhớ hằng năm vào ngày 28-11), ba lần, lần thứ nhất vào 11 giờ 30 đêm
ngày 18 cho đến 1 giờ 30 sáng ngày 19 tháng 7, lần thứ hai vào ngày Thứ
Bảy 27 tháng 11, và lần thứ ba vào tháng 12 cùng năm để hỏi chị về việc
mà Mẹ đã trao cho chị.
Vào lần hiện ra thứ nhất, Đức Mẹ đã nói với chị như sau:
“Những điều khủng khiếp sắp xẩy ra ở nước Pháp. Ngai vàng sẽ bị hủy hoại
và cả thế giới sẽ bị kinh động vì những tai ương rùng rợn ... Thánh giá
sẽ bị chà đạp ... Máu sẽ chảy trên đường phố... Thế giới chìm ngập trong
sầu thảm...” (TWSC: 17-18)
Vào lần hiện ra thứ hai, Đức Mẹ đứng trên quả cầu, đồng thời cũng cầm
trên tay một quả cầu nhỏ có thánh giá trên đầu quả cầu, và nói:
“Quả cầu mà con thấy đây là thế giới. Mẹ vẫn cầu nguyện cho nó và cho
mọi người trong thế giới này...” (TWSC:19). Thế rồi, sau đó, quả cầu
trên tay Mẹ biến đi, hai tay Mẹ xuôi xuống, và Mẹ được bao quanh bằng
một vòng trái xoan với hàng chữ: “Ôi Maria đầu thai vô nhiễm tội, cầu
cho chúng con chạy đến cùng Mẹ” (TWSC:19). Chị nghe thấy tiếng nói với
chị: “Hãy theo hình ảnh này mà làm một mẫu ảnh bằng kim loại. Tất cả
những ai đeo nó sau khi được làm phép sẽ lãnh nhận được nhiều ơn, nhất
là khi họ đeo nó ở cổ” (TWSC:19).
NĂM 1846, Ở LA SALETTE, cũng nước Pháp, Mẹ đã hiện ra với hai thiếu niên
là Melanie Mathieu (nữ, 14 tuổi) và Maximin Giraud (nam, 11 tuổi) vào
ngày Thứ Bảy, 19-9.
Khi hiện ra với hai thiếu niên này, Đức Mẹ đã than thở, kêu gọi và chỉ
dạy những điều sau đây:
“Hỡi các con của Mẹ, đừng sợ, hãy đến đây với Mẹ. Mẹ đến để cho các con
biết những điều quan trọng. Nếu các con không nghe lời Mẹ, thì Mẹ đành
phải buông cánh tay Con của Mẹ. Cách tay của Ngài đè nặng đến nỗi Mẹ
không còn cản lại được nữa. Mẹ còn phải chịu khổ vì các con đến bao
giờ... Cầu nguyện thật là khẩn thiết, cả sáng lẫn tối. Nếu các con không
có giờ, tối thiểu hãy đọc kinh Lạy Cha và kinh Kính Mừng. Nếu có giờ,
hãy đọc nhiều hơn” (TWSC:41-43,45-46)
Sau khi Mẹ hiện ra với 2 thiếu niên này, Đức Thánh Cha Piô IX muốn biết
về Bí Mật La Salette. Trong khi viết ra những điều bí mật theo ý muốn
của Đức Thánh Cha, Melanie đã hỏi về ý nghĩa của chữ “vô ngộ” và xin
đánh vần cho chữ “phản Kitô”. Sau khi đọc những điều hai thiếu niên này
viết, Đức Thánh Cha đã nói với những kẻ muốn biết về bí mật như sau:
“Các con muốn biết bí mật này ư? Nó là thế này: 'Nếu các ngươi không ăn
năn hối cải, tất cả các ngươi sẽ bị tiêu diệt'”.
NĂM 1858, Ở LỘ-ĐỨC, một lần nữa cũng tại nước Pháp, Mẹ đã hiện ra với
một em gái 14 tuổi tên là Bernadette Soubirous, (sau này được Đức Thánh
Cha Piô XI phong thánh năm 1933, và được Giáo Hội kính nhớ hằng năm vào
ngày 16-4), 18 lần, từ ngày 11 tháng 2 đến 16 tháng 7.
Sứ điệp của Mẹ trong những lần hiện ra tại đây là:
Vào ngày 18/2: “Ta không hứa làm cho con được hạnh phúc ở đời này, mà là
ở đời sau” (THAL:88);
- Vào ngày 24/2: “Hãy hối cải, hối cải. Hãy cầu nguyện cùng Chúa cho các
tội nhân và hãy ăn năn hôn đất
cầu cho các tội nhân trở lại” (THAL:96);
- Vào ngày 25/3: “Ta là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội” (THAL:113).
NĂM 1917, Ở FATIMA, nước Bô Đào Nha, Mẹ đã hiện ra với ba Thiếu Nhi là
Giaxinta (nữ, 7 tuổi), Phanxicô (nam, 9 tuổi) và Lucia (nữ, 10 tuổi) sáu
lần, năm ngày 13/5-6-7-9-10 và một ngày 19/8.
Theo chị Lucia thuật lại trong Hồi Ký của chị, lần hiện ra nào Mẹ cũng
kêu gọi "hãy lần hạt Mân Côi hằng ngày". Mục đích lần hạt Mân Côi này,
như Mẹ nói, là "để cầu cho hòa bình thế giới".
Lần hiện ra thứ hai, Mẹ cho biết ý Chúa muốn thiết lập lòng tôn sùng
Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ trên thế giới.
Lần hiện ra thứ ba, Mẹ cho ba Thiếu Nhi thị kiến thấy hỏa ngục và tiết
lộ ba Bí Mật.
Lần cuối cùng, Mẹ xưng mình: “Ta là Đức Mẹ Mân Côi”, rồi Mẹ làm phép lạ
cho mặt trời nhẩy múa để mọi người tin.
NĂM 1932 VÀ 1933, Ở BEAURAING, nước Bỉ, Mẹ đã hiện ra với năm em học
sinh, 4 nữ và 1 nam, đó là Fernande (15 tuổi), Andree (14 tuổi),
Gilberte Voisin (13 tuổi), Albert (11 tuổi), Gilberte Degeimbre (9
tuổi), 33 lần, từ ngày 29/11/1932 đến 3/1/1933.
Sứ điệp Mẹ đã ban vào những lần hiện ra với một số điều quan trọng như:
- Vào ngày 21/12/1932: “Mẹ là Trinh Nữ Vô Nhiễm Nguyên Tội”
(AWCWTS:225);
- Vào ngày 30/12/1932: “Hãy cầu nguyện, cầu nguyện thật nhiều”
(AWCWTS:226);
- Vào ngày 1/1/1933: “Hãy luôn luôn cầu nguyện” (AWCWTS:226).
- Lần cuối cùng, 3/1/1933, Đức Mẹ nói với Gilberte Voisin: “Mẹ sẽ làm
cho các tội nhân ăn năn hối cải”, với Andree: “Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, Nữ
Vương Thiên đàng. Hãy luôn cầu nguyện” (AWCWTS:227). |