|
Phải, 75 năm về trước, CS Liên Sô đã bắt đầu
với cuộc về nước của Lenin ngày 16-4-1917 (sau 9 năm vận động cách mạng
ở hải ngoại từ năm 1908) cầm đầu đảng Bolsheviks (năm 1918 đã đổi tên
thành Đảng CS) chính thức đi vào giai đoạn Cách Mạng Tháng Mười,
để lật đổ Nga hoàng là Czar Nicholas II vào ngày 7-11-1917.
Vâng, cũng 75 năm về trước, một biến cố khác đã xẩy ra thật là trùng hợp
và hoàn toàn ăn khớp với sự xuất đầu lộ diện của CS tại Nga Sô. Đó
là việc Đức Mẹ hiện ra với ba thiếu nhi ở Fatima nước Bồ Đào Nha sáu
lần, từ tháng 5 tới tháng 10 năm 1917, khoảng thời gian ngay giữa cuộc
Cách Mạng Vô Sản của Lenin ở Nga Sô (từ tháng 4 đến tháng 11/1917).
Một điều lạ lùng khó có thể chối cãi, có liên hệ đến hai biến cố này, đó
là, ngay ngày 13 tháng 7 năm 1917, Đức Mẹ đã tiết lộ cho ba thiếu nhi
Fatima là em gái Giaxinta, 7 tuổi, em trai Phanxicô, anh ruột của
Giaxinta, 9 tuổi, và em gái Lucia, chị họ của cả Phanxicô và Giaxinta,
10 tuổi, ba điều Bí Mật. Điều Bí Mật thứ nhất, theo nội dung, liên quan
đến số phận đời đời của chung các linh hồn. Điều Bí Mật thứ hai, liên
quan trực tiếp đến Nước Nga. Và, điều Bí Mật thứ ba, dù chưa được Đức
Thánh Cha tiết lộ từ năm 1960, theo đa số các học giả về Sự Lạ Fatima,
có liên quan đến riêng vận mệnh của Giáo Hội.
Về điều Bí Mật Fatima thứ hai, Đức Mẹ đã tỏ cho ba thiếu nhi Fatima biết
như thế này:
“...Chiến tranh sẽ chấm dứt, nhưng nếu con người không thôi xúc phạm đến
Thiên Chúa, một cuộc chiến khốc liệt hơn nữa sẽ bùng nổ vào thời Đức Piô
XI. Khi các con thấy trong đêm tối xuất hiện một ánh sáng lạ, các con
hãy biết rằng, đó là dấu hiệu rõ ràng Thiên Chúa tỏ cho chúng con thấy
rằng Ngài sắp sửa trừng trị thế giới vì tội lỗi của họ, bằng chiến
tranh, đói kém, bắt bớ Giáo Hội và Đức Thánh Cha. Để tránh khỏi điều
này, Mẹ sẽ đến để xin hiến dâng Nước Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên
Tội của Mẹ và xin rước lễ đền tạ vào các Ngày Thứ Bảy Đầu Tháng. Nếu yêu
cầu của Mẹ được thực hiện, Nước Nga sẽ trở lại và sẽ có hòa bình; bằng
không, Nước Nga sẽ reo giắc lầm lạc trên khắp thế giới, gây chiến tranh
và bắt bớ Giáo Hội. Kẻ lành sẽ tử đạo, Đức Thánh Cha sẽ chịu nhiều đau
khổ, một số quốc gia sẽ bị tiêu diệt. Cuối cùng, Trái
Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội của Mẹ sẽ thắng. Đức Thánh Cha sẽ dâng hiến Nước
Nga cho Mẹ, Nước Nga sẽ trở lại, và thế giới sẽ được hưởng một thời gian
hòa bình...”
Phần Bí Mật thứ hai trên đây được chị Lucia viết ra trong phần Hồi Niệm
thứ ba và thứ bốn. Tất cả những gì chị Lucia viết ra, hoàn toàn vì vâng
lời Giám Mục Silva cai quản địa phận Leiria-Fatima, gồm có 4 phần, được
gọi là Những Hồi Niệm (Memoirs):
Phần Hồi Niệm thứ nhất, nội dung về Giaxinta, được chị bắt đầu viết vào
tuần thứ hai của tháng 12 năm 1935 và hoàn tất vào ngày 25/12/1935, lễ
Chúa Giáng Sinh. Phần Hồi Niệm thứ hai, nội dung về chính mình, chị
Lucia bắt đầu viết vào ngày 7-11-1937 và hoàn tất vào ngày 21-11-1937,
lễ Đức Mẹ Dâng Mình Vào Đền
Thánh. Phần Hồi Niệm thứ ba, ngắn nhất, nội dung về Giaxinta (thêm cho
đầy đủ) và về hai bí mật đầu, được chị viết ngay sau khi nhận được thơ
của đức giám mục da Silva ngày 26-7-1941 và hoàn tất ngày 31-8-1941.
Phần Hồi Niệm thứ bốn, dài nhất, nội dung về Phanxicô, về Giaxinta (nếu
còn sót điều gì), về thị kiến Thiên Thần và Đức Mẹ hiện ra, được chị
viết ra sau khi được lệnh đức giám mục da Silva ngày 7-10-1941 và hoàn
tất phần nhất ngày 25-11-1941 và phần hai ngày 8-12-1941, lễ Đức Mẹ Vô
Nhiễm Nguyên Tội.
Như thế, Bí Mật Fatima thứ hai, liên quan trực tiếp đến Nước Nga, như
một lời tiên tri về tất cả những việc làm của Nước Nga và cuộc trở lại
của Nước Nga, đã được tỏ cho thế giới biết, qua giáo quyền địa phương là
đức giám mục da Silva, khi chị Lucia viết ra và gửi cho ngài. Theo lịch
sử diễn tiến từ ngày Đức Mẹ hiện ra ở Fatima và tiết lộ cho loài người,
qua ba thiếu nhi Fatima, biết bí mật của Mẹ, cách riêng bí mật thứ hai,
thì mọi sự đã xẩy ra hoàn toàn ứng nghiệm với lời tiên tri của Mẹ. Những
chứng tích lịch sử đó là:
“Chiến tranh sẽ chấm dứt":
Đại chiến thứ nhất bắt đầu bùng nổ từ ngày 28/6/1914 khi Francis
Ferdinand, ông hoàng của nước Áo bị ám sát tại thủ đô Sarajevo, và đã
chấm dứt ngày 11/11/1918 khi nước Đức ký đầu hàng đồng minh. Vào thời
điểm Đức Mẹ nói “chiến tranh sẽ chấm dứt” là ngày 13-7-1917, thì Hoa Kỳ
đã chính thức tuyên chiến với Đức ngày 6-4-1917 và mới bắt đầu đổ quân
xuống Pháp ngày 24-6- 1917 để tiếp tay với các nước Âu Châu dập tắt lực
lượng đơn thân độc mã khiêu chiến và chiến đấu của Đức quốc.
“Một cuộc chiến khốc liệt hơn nữa sẽ bùng nổ vào thời Đức Giáo Hoàng Piô
XI":
Đại Chiến thứ hai quả nhiên đã chính thức xẩy ra vào ngày 1-9-1939 khi
quân Đức xâm chiếm Ba-Lan, để rồi kết thúc, tại Âu Châu ngày 7/5/1945
khi Đức đầu hàng đồng minh vô điều kiện ở Reims nước Pháp, và tại Á Châu
ngày 2-9-1945 khi Nhật ký đầu hàng Mỹ trên chiến hạm U.S.S.Missouri tại
vịnh Tokyo. Hậu quả của cuộc Đại Chiến thứ hai này đúng là “khốc liệt
hơn” Đại Chiến thứ nhất. Ở chỗ, trong khi Đại Chiến thứ nhất mất có 10
triệu mạng người lính, trong đó Pháp chiếm 1 triệu 1/3, Đức và Nga mỗi
nước mất 1 triệu 3/4, thì Đại Chiến thứ hai thủ tiêu mất 17 triệu mạng
người tham chiến, trong đó, có 7 triệu rưỡi của Nga, 3 triệu rưỡi của
Đức và 1 triệu 1/4 của Nhật, cộng với 20 triệu mạng thường dân của Nga
và 10 triệu mạng thường dân của Tầu. Cuộc Đại Chiến thứ hai này cũng
đúng là “bùng nổ vào thời Đức Giáo Hoàng Piô XI”.
Đúng vậy, trước khi Đức Thánh Cha Piô XI băng hà ngày 10-2-1939, Đại
Chiến thứ hai đã bắt đầu xẩy ra, trước tiên là Ý xâm chiếm Ethiopia năm
1935 và hoàn toàn khống chế nước này vào tháng 5/1936, sau đó là Nhật
tấn công Trung Hoa vào năm 1937 và chiếm gần hết phần đất phía đông của
Trung Hoa vào cuối năm 1938, sau cùng là Đức tiến vào nước Áo tháng 3
năm 1938 và sát nhập nước này với Đức quốc. Theo chị Lucia, “việc xâm
chiếm Áo quốc là khơi mào cho chiến tranh. Khi Hoà Ước Munich được ký
kết (ngày 29-30/9/1938, giữa Chamberlain, Hitler, Mussolini và Daladier
công nhận Sudetenland là phần đất biên giới ở phía bắc của nước
Czechoslovakia thuộc về Nazi Đức Quốc Xã), các dì (dòng thánh Đôrôthêô
của chị) vui mừng vì họ nghĩ là hòa bình đã được vãn hồi. Tiếc thay, tôi
lại biết rõ hơn các dì ấy nữa” (MOCC:XIV)
“Trong đêm tối xuất hiện một ánh sáng lạ...dấu hiệu Thiên Chúa sắp trừng
phạt thế giới":
Tờ Le Nouvelliste de Lyons, ra ngày 26/1/1938 ở Pháp, đã viết về đêm 25
rạng 26/1/1938 theo nhận xét của ông Jean Dufay, giám đốc quan sát viện
Saint-Genis-Laval, kiêm giảng sư khoa học Lyon, như sau:
“Quang cảnh mà chúng ta vừa chứng kiến rất lạ lùng. Đó là một vầng ánh
sáng Bắc phương ở một cao độ khá, một hiện tượng rất hiếm đối với vĩ
tuyến của chúng ta, hiếm có vào lúc này vì những luồng dưỡng khí và phát
xạ đạm khí của một tổng hợp quang phổ kỳ diệu. Vầng ánh sáng bắc phương
này luôn luôn liên hệ đến một vùng tròn mầu sắc vào một lúc nào đó băng
ngang qua kinh tuyến chính của mặt trời. Những hiện tượng này xuất hiện
trên trời bình thường xẩy ra khoảng 48 tiếng đồng hồ sau khi vùng tròn
mầu sắc này qua đi. Mà, theo sự khảo sát của chúng ta về mặt trời mấy
hôm vừa qua cho phép chúng ta nói được rằng đã không có một bóng mờ nào
băng ngang qua thái dương. Điều đó càng chứng tỏ về sự lạ lùng của hiện
tượng này vì thiếu nguyên nhân gây ra nó” (TWTAFII:705).
Theo chị Lucia, “vầng ánh sáng bắc phương” này chính là “dấu hiệu Thiên
Chúa sắp trừng phạt thế giới” như
Đức Mẹ báo trước. Cuộc xâm chiếm của Đức đối với Áo quốc vào tháng 3
ngay sau đó không phải là khai mào cho việc Thiên Chúa trừng phạt thế
giới “vì tội lỗi của họ” hay sao?
“Mẹ sẽ đến để xin dâng hiến Nước Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội
của Mẹ và xin rước lễ đền tạ vào các Thứ Bảy Đầu Tháng":
Mẹ Maria đã giữ đúng lời hứa này khi hiện ra với chị Lucia hai lần. Lần
thứ nhất vào ngày 10/12/1925 tại Pontevedra nước Tây ban Nha, trong một
tu viện của dòng thánh Đôrôthêô mà chị bấy giờ là một tập sinh,
Đức Mẹ hiện ra với chị cùng với Chúa Hài Nhi và nói với chị những lời
sau đây:
“Hỡi con gái của Mẹ, hãy nhìn vào Trái Tim của Mẹ bị gai nhọn quấn quanh
do các con người vô ơn bội bạc gây ra mỗi khi họ phạm thượng và vong ân.
Ít là phần con hãy cố gắng ủi an Mẹ và này Mẹ hứa sẽ phù hộ trong giờ
lâm chung bằng những ơn cần thiết cho những ai Năm Ngày Thứ Bảy Đầu
Tháng liền xưng tội, rước lễ, lần năm chục kinh Mân Côi, và dùng mười
năm phút suy về 15 mầu nhiệm Mân Côi, với ý đền tạ Mẹ” (FILOW:195).
Lần thứ hai vào ngày 13/6/1929 tại Tuy nước Tây Ban Nha, trong nhà
nguyện dòng của chị, Đức Mẹ tay cầm Trái Tim hiện ra với chị ở thế đứng
bên phải Thánh Giá bằng ánh sáng có những giọt máu từ mặt và cạnh sườn
của Chúa Kitô chịu đóng đanh nhỏ xuống bánh thánh và chén thánh ở bên
dưới cạnh sườn của Chúa, và Đức Mẹ nói với chị những lời sau đây:
“Đã đến lúc Thiên Chúa muốn xin Đức Thánh Cha hợp cùng với tất cả các
giám mục trên thế giới để hiến dâng nước Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm
Nguyên Tội Mẹ, Ngài hứa cứu nước Nga” (FILOW:200)
“Nếu yêu cầu của Mẹ được thực hiện, Nước Nga sẽ trở lại và sẽ có hòa
bình; bằng không Nước Nga sẽ gieo rắc lầm lạc trên khắp thế giới, gây
chiến tranh và bắt bớ Giáo Hội. Kẻ lành sẽ tử đạo, Đức Thánh Cha sẽ chịu
nhiều đau khổ, một số quốc gia sẽ bị tiêu diệt":
Theo Bí Mật thứ hai mà Đức Mẹ tỏ ra cho ba Thiếu Nhi Fatima vào ngày
13-7-1917 này thì Đức Mẹ chỉ “yêu cầu”hai điều. Một là “”dâng Nước Nga
cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội của Mẹ”, hai là “rước lễ đền tạ các
Ngày Thứ Bảy Đầu Tháng”. Tuy nhiên, vào lần hiện ra với chị Lucia tại
Tuy ngày 13/6/1929, theo lời của Mẹ, thì chỉ còn lại một “yêu Cầu” duy
nhất. Đó là nếu Đức Thánh Cha hợp với toàn thể các đức giám mục trên thế
giới hiến dâng Nước Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội của Mẹ thì Nước
Nga sẽ được cứu.
Tất cả diễn tiến việc thực hiện điều “yêu cầu” duy nhất này của Đức Mẹ,
cũng là diễn tiến việc “Nước Nga sẽ được cứu" ở trong chương kế tiếp,
"Đáp Ứng Yêu Cầu". |