Maria, kẻ đã tin

 

Nguyên tác của: Karl Rahner 

CON NGƯỜI LÀ DUY NHẤT

Con người là duy nhất, vẫn hay gồm một thân xác và một linh hồn, nhưng không kết với nhau như những yếu tố ngẫu nhiên chắp nối mà thành con người. Từ nguyên thủy trong ý định tạo dựng của Thiên Chúa, con người là duy nhất cả trong thực thể làm người, cả trong định mệnh cuối cùng của đời họ. Bởi thế con người chỉ được thành toàn thật sự khi con người được viên mãn trong thực thể toàn diện gồm xác và hồn.

Nói cho cùng, người ta không thể nào phân chia một người ra : một đàng là linh hồn được vẹn toàn nơi Thiên Chúa, đàng kia là thể xác, hoặc bị bỏ rơi đâu đó, hoặc là sau một thời gian mới được vào thông hưởng phúc lạc linh hồn đã có trọn vẹn rồi, con người duy nhất chỉ được toàn vẹn như một sinh linh duy nhất, là khi toàn thể con người duy nhất cụ thể bằng xương bằng thịt, với cả mọi điều kiện sống, được thành toàn hạnh phúc.

Do đó chúng ta hiểu vì sao trong các lời giáo huấn sơ khởi, Hội thánh đã luôn nói đến việc xác sống lại, khi có ý nói đến việc thành toàn hạnh phúc con người. “Xác” ở đây theo ý Hội thánh có nghĩa là con người toàn diện, duy nhất, con người có thể xác đích thực và chính về con người có thể xác ấy mà Hội thánh quả quyết rằng cùng đích, sự thành toàn hạnh phúc con người chính là được thông phần vào vinh quang đời đời của Đấng Tạo hóa, thông phần một cách thấu triệt bằng tất cả thực thể của mình : con người được rạng ngời trong thân xác, được sống trong một trời mới, một đất mới, và được vinh quang của Ngôi Lời hằng có tràn ngập tâm linh. Đó chính là cùng đích duy nhất vĩnh cửu của con người.

Thường tình thì con người không đạt đến cùng đích ấy trong giây lát và muốn thành toàn cần phải có sự tiến hóa, có sự phát triển, đi từng giai đoạn một, xét theo đặc tính biến đổi nơi những tạo vật hữu hạn thì không có gì lạ lùng cả. Nhưng điều đó không làm cho sự kiện này thay đổi tí nào là con người chỉ được hoàn toàn một khi đã vào trong vinh quang của Thiên Chúa, cả hồn lẫn xác.

Có lẽ chúng ta không thể tưởng tượng được vinh quang ấy. Chúng ta luôn bị rơi vào mù tối khi chúng ta cố diển tả theo chi tiết thế nào là con người thành toàn cả hồn lẫn xác. Nhưng chúng ta cũng phải ngạc nhiên khi thấy con người đang bị hạn định trong thời gian và không gian, lại có thể dựa trên kinh nghiệm của đời mình để hình dung cách cụ thể cái gì mà con người chờ mong nơi Thiên Chúa làm vinh quang của đời sống thành toàn, mà cũng là ân huệ của Thiên Chúa toàn năng hằng hữu ban cho. Nếu chúng ta có thể họa lên việc ấy mà không rơi vào mâu thuẫn hay thiếu sót, thì điều ấy không phải là sự thành toàn đích thực nữa rồi.

Là những sinh linh có tinh thần và được ơn Chúa ban cho một đòi hỏi vô biên, vì thế chúng ta có thể nhờ lý trí, theo đức tin soi sáng dạy bảo mà nhận biết điều này : chỉ có mình Thiên Chúa là cùng đích quyết định của đời chúng ta, và chúng ta chỉ tìm thấy mãn nguyện trong một mình Người. Nhưng nếu chúng ta tìm cách hình dung tỉ mỉ thế nào là sự thành toàn hạnh phúc vô biên ấy, thì điều đó vượt mức khả năng tưởng tượng của chúng ta mất rồi ! Vả lại, đó chính là cách nói của con người lữ hành hiểu biết về cùng đích của đời mình : “Ra đi mà chỉ biết là đích còn xa tắp nơi đâu !” Nhưng chúng ta có thể nghe và tin tín thư do Lời hằng sống của Thiên Chúa mang đến : là con người toàn diện cả hồn lẫn xác được gọi vào hưởng đời sống vinh quang của Thiên Chúa.

Tất cả lịch sử cứu độ nhân loại là một tấn kịch vĩ đại và duy nhất : Chúng ta đã bàn đến điều này là dù định mệnh cá nhân vẫn còn bỏ ngỏ và chờ đón, vì Ngôi Lời đã đến trong trần gian, nên lịch sử cứu độ ấy như một khối duy nất đến giai đoạn quyết định. Vì chân lý quyết định của đức tin Công giáo là điều này : Chúa Kitô thực sụ đã sống lại.

Nhưng chính với nhân tính chúng ta, chính với xương thịt chúng ta mà Ngài đã sống lại, đã được tôn dương và được đón nhận vào trong vinh quang của Thiên Chúa, nên chân lý căn bản ấy của Kitô giáo từ lúc sơ khai mà đi hằng tuyên xưng : vinh quang hằng hữu mà từ nay lịch sử thế gian có đạt tới, nhân loại và thể xác có thể đạt tới được là vì vinh quang ấy là điều có thật nơi thể xác Chúa Kitô rồi, mà thể xác Ngài là một phần của vũ trụ này …

Đức tin bây giờ biết rằng Maria là hoa quả tốt đẹp nhất của ơn cứu chuộc và cái thành quả ơn thánh của Ngài đã vào giai đoạn quyết định, vì Ngài đã lìa khỏi đời sống trần gian này, đời sống lệ thuộc vào dương gian để đi vào một giai đoạn ở đó không còn diễn lại cái lịch sử mà con người phải dùng tự do mình để định đoạt như khi còn ở thế trần, nhưng ở đó, hoa quả thu lượm được ở đời này sẽ được góp lại đem vào đời sống vĩnh cửu Thiên Chúa.

Nếu lúc sinh thời, Maria, với tư cách là Mẹ Thiên Chúa, đã bị một kỳ công tuyệt diệu và vượt mức của Ơn cứu chuộc mà một người trần gian có thể nhận được, và do đó, Ngài tượng trưng tuyệt hảo cho ơn cứu chuộc thành toàn ; nếu Maria đã thực sự hưởng đời sống thành toàn hạnh phúc (điều này không ai có thể nghi ngờ được, nếu họ đã biết hoàn tất cuộc đời tràn đầy ơn phúc và được gìn giữ khỏi nhiễm lây tội lỗi) nếu lịch sử cứu độ đã đạt đến thời mà cả xác lẫn hồn được thành toàn hạnh phúc, thì từ nay sự thành toàn ấy là một điều ai cũng có thể đạt đền (điều đó không ai được quyền nghi ngờ nếu họ tin Chúa Kitô đã sống lại theo nhân tính của Ngài), nếu thế, đức tin sẽ được sáng tỏ và chỉ biết tuyên xưng về Maria như Hội thánh đã tuyên bố : Maria khi đã hoàn tất cuộc đời trần gian thì Ngài được vinh hiển cả hồn lẫn xác trên Thiên Đàng.

Bây giờ chúng ta thử xem mầu nhiệm đức tin ấy có nghĩa gì đối với ta.

Ý nghĩa thứ nhất : Khi chúng ta muốn diễn tả sự thành toàn hạnh phúc của Mẹ Maria trong vinh quang, chúng ta không thể nói điều gì khác ngoài điều mà chúng ta hằng tin nhận và cũng là điều chúng ta hằng hy vọng. Đó là : xác sống lại và sự sống đời đời. Nói như thế là chúng ta đã tuyên xưng rằng Maria đã hưởng hạnh phúc hoàn hảo. Mà khi chúng ta ca tụng về Ngài điều mà chúng ta ước vọng cho chúng ta, tức là chúng ta tuyên xưng sự vinh hiển của Maria như chính sự thành toàn hạnh phúc của chúng ta, chính vì thế cho nên qua lời tuyên xưng như vậy, chúng ta ca tụng vinh quang cao cả hằng hữu, vinh quang tuyệt đỉnh mà chúng ta được dự phần vào. Và trong lời ca tụng ấy, chúng ta cũng tôn dương sự cao trọng của mỗi một người chúng ta, sự cao trọng do tình thương và ân huệ Thiên Chúa ban cho chúng ta.

Ý nghĩa thứ hai : Phải chăng chúng ta đang sống vào một thời mà con người chỉ bo bo nghĩ về mình, quá ư lo âu khắc khoải nghĩ đến mình, không chỉ vì mình là thần trí mở rộng ra trước chân trời vô tận của hiểu biết và tiến bộ, nhưng cũng vì mình là thể xác, con người của trần gian với thực thất bằng xương bằng thịt, sinh ra trong hữu hạn để rồi kết thúc trong sự chết, bị kềm hãm trong bao nhiêu điều kiện thể lý, di chuyển, kinh tế … mà không có một chút hy vọng nào ? Phải chăng con người tôn thờ thể xác trong khi kẻ khác lại gớm ghét nó, nhưng phải chăng mọi người đều đau khổ dưới ách thể xác ? Nó lại chẳng bị chôn vùi trong đầy đọa, trong tủi nhục và đồng thời bị xài phí cách phóng đãng và ô nhục đó sao ?

Giữa trần gian này, nơi mà thể xác bị ghét bỏ, được tôn thờ mà vẫn đau khổ, Hội thánh tuyên xưng lên toàn diện : Đức Mẹ lên trời cả hồn lẫn xác, nơi đây Hội thánh không phải tuyên bố nào là chương trình, nào là nguyên tắc, hoặc là chân lý trừu tượng, nhưng là công bố những thục tại do quyền năng và tình thương vô biên của Thiên Chúa đã thực hiện. Những thực tại ấy đã xảy ra và đã xảy ra nơi chúng ta, là những người phàm, đã xảy ra không chỉ nơi những con người đang cần ơn cứu chuộc, đang cảm thấy mình bất lực, chỉ biết mở lòng đón tất cả cái gì gây ơn cứu độ thực, chứ không phải những cái vô dụng ở trần gian.

Trong chân lý “Mẹ lên trời cả hồn lẫn xác” Hội thánh hô to lên : thể xác được cứu rỗi. Thục sự thân xác được cứu rỗi – Bước đầu tiên đã được thực hiện nơi một người nữ, một người thuộc dòng dõi chúng ta, một người đã cùng chúng ta khóc, đau khổ và chết. Cái thân xác mà nhiều người oán ghét cũng như nhiều kẻ tôn thờ đã trở nên xứng đáng để đời đời được ở gần Thiên Chúa, đời đời được rỗi. Cái thân xác đó không phải chỉ là cái thân xác của Con một Chúa Cha, Đấng đã từ trời cao xuống thế, mà là thân xác của một người nữ thuộc dòng dõi chúng ta, đấng cũng như chúng ta, bắt nguồn từ trần gian này.

Cuộc sống con người trong tiểu sử giờ đây và nơi này là một đề tài của nhân sinh quan hiện đại, cuộc sống đó không phải là bức tường ngăn chúng ta ra khỏi Thiên Chúa mãi mãi, biến chúng ta thành những kẻ vô thần ; mà cuộc sống đó cũng không phải vứt bỏ đi để rồi mới có thể đến cùng Thiên Chúa. Không ! Thân xác chúng ta đã được Chúa Cha tạo dựng vượt ra khỏi mọi vực thẳm, đã được Chúa Con giải thóat, đã được Chúa Thánh Thần thánh hóa và đã được cứu rỗi muôn đời.

Sống giữa cảnh lo lắng và túng thiếu của thế hệ loài người, Hội thánh mà người ta thường ưa trách là hay làm chính trị và mưu uy quyền trần gian, và chỉ muốn xây dựng một địa vị vĩnh viễn trên đời này mà ít hướng về đời vị lai, chính Hội thánh ấy lại ngẩng đầu lên và tuyên xưng tín điều Mẹ lên trời. Hội thánh nhìn về niềm hy vọng độc nhất, niềm hy vọng mà Hội thánh đặt hết tin tưởng … Hội thánh đã ngước mắt lên nhìn Thiên Chúa, Đấng đang đến để thống trị và lập một nước mà Người đã khai mào thật sự giữa chúng ta, Hội thánh đã ngước mắt nhìn lên và chào đón nơi Maria chính kiểu mẫu của mình và cảnh tượng thân xác được sống lại trong thời vị lai. Amen. 


Last Updated: 01/02/2002