Đức Mẹ Bảy Niềm Đau
15/09


Niềm đau thứ hai TRÊN ĐƯỜNG TỊ NẠN
 

Con nai bị mũi tên của thợ săn, đi đâu cũng đau đớn mang theo cái tên đả thương nó. Cũng vậy, sau lời tiên báo ghê sợ của tiên tri Simêon, Đức Mẹ Maria lúc nào cũng canh cánh bên lòng cái ý tưởng miên man về cuộc Khổ nạn tương lai của Con Mẹ. Diễm Ca viết: Tóc trên đầu Mẹ thẫm đào như màu áo hồng hoàng đế (x. Dc 7,6). Đan sĩ Tôma áp dụng những lời trên vào những tư tưởng của Mẹ Đồng Trinh, cha viết: "Ôi Maria, tưởng đến cuộc khổ nạn mà máu Chúa Cứu Thế, tâm trí cùng tư tưởng của Mẹ nhuộm thắm màu hồng, và Mẹ thấm nhập vào màu hồng đó như là tận mắt nhìn thấy máu Con Mẹ trào ra từ những vết thương”. Chúa Giêsu vì thế đã là mũi tên cắm phập vào lòng Mẹ, và càng ngày Chúa Giêsu càng mĩ miều khả ái, thì vết thương này càng sâu hoắm trong lòng Mẹ, khi nghĩ đến một mai sẽ mất Con qua một cái chết dã man.

Hôm nay chúng ta sẽ suy niệm lưỡi gươm đau khổ thứ hai. Lưỡi gươm đã xuyên thấu linh hồn Mẹ, khi Chúa Giêsu phải trốn sang Ai Cập, tránh cuộc truy nã của bạo vương Hêrôđê.

Tin sầu cấp báo

Nghe tin Đấng Cứu Thế từng chờ trông đã sinh hạ, Hêrôđê hoảng hốt sợ Ngài sẽ cướp quyền mình. Thánh Fulgenxê suy diễn nhà vua vì cái điên hoảng đó như sau: "Hêrôđê, nhà vua kinh hoảng làm gì? Vị vương đế mới sinh đó không đem vũ lực đến hất đổ ngai vàng của các vua trần thế đâu, ngài sẽ chết vì yêu thương để chinh phục mà thôi".

Thế nên, ông hoàng vô đạo đó ngong ngóng đợi chờ các nhà Bác học trở về cho ông biết tân vương sinh hạ ở đâu để giết phức cho rồi. Nhưng lúc thấy mình chờ đợi uổng công, ông bèn hạ lệnh tàn sát tất cả những hài nhi ở thành Belem, và miền phụ cận. Một Thiên thần đến báo mộng cho thánh Giuse cho ngài biết mệnh lệnh của Thiên Chúa: "Dậy đi, đem Hài Nhi và Mẹ Ngài trốn sang Ai Cập" (Mt 2,13). Theo cha Gerson, thánh Giuse cấp thời đến báo tin cho Đức Mẹ, rồi ẵm Chúa Giêsu Hài Nhi, cả hai cùng lên đường tị nạn ngay đêm ấy. Thánh ký viết rõ: "Giuse trỗi dậy, đem Hài Nhi và Mẹ Ngài sang tị nạn bên Ai Cập" (Mt 2,14).

Suy niệm cảnh tản cư này của thánh gia, thánh Albertô Cả tưởng như nghe thấy Mẹ Maria kêu lên rằng: "Lạy Chúa, Đấng cứu độ loài người mà lại phải trốn chạy loài người ư?". Thấy Con mình ngay còn trứng nước đã phải tầm nã sát hại, Mẹ rầu rĩ hiểu ngay rằng lời tiên báo của ông già Simêon đã bắt đầu thực hiện: "Trẻ này sẽ làm cớ cho người ta tranh chấp" (Lc 2,34). Theo thánh Phêrô Kim ngôn, khi nghe biết phải cùng Con chịu đào vong gian khổ như vậy, lòng Mẹ Maria đã tràn ngập biết bao sầu đắng! Có khác gì nói với Mẹ: hãy giã từ quê hương thân yêu mà lưu lạc sang sống nơi đất khách! Hãy tránh xa Đền Thờ mà đến ở bên những bàn thờ thờ những thần giả trá! Thánh Tiến sĩ lại hỏi: "Ai có thể tưởng tượng ra một nỗi khổ tâm nào lớn lao hơn nỗi khổ tâm của Thánh Trinh Nữ dịu dàng này phải vội vã mang Con mới sinh lên lưng mà tìm đường trốn tránh không?".

Trên đường lưu lạc quê trời

Mỗi người chúng ta hãy tự hình dung ra cuộc hành trình này đã mang lại biết bao tân khổ cho Đức Mẹ. Đường từ Do Thái sang Ai Cập thời đó rất xa. Cùng với Barrađa, các tác giả nhận rằng đường ấy dài bốn trăm dặm, phải đi mất ít nhất là ba mươi ngày. Theo thánh Bonaventura tả, con đường ấy xuyên sâu qua rừng rậm um tùm, sạn đá và hoang vu. Bấy giờ là mùa đông, còn phải chịu dấn mình vào tuyết sa, mưa lạnh, gió gào qua những con đường cắt khúc và lầy lội. Mẹ Maria lúc ấy mới có mười lăm tuổi, là một trinh nữ mảnh khảnh yếu đuối, chưa hề quen với những nhọc nhằn ấy bao giờ. Thánh gia lại không có người giúp việc. Theo thánh Phêrô Kim ngôn, thánh Giuse và Mẹ Maria không hề có tôi nam tớ nữ, chính các ngài vừa làm chủ nhà, vừa tự thân làm tôi tớ.

Lạy Chúa! đáng thương biết bao một người mẹ trẻ trung kiều mị nhường ấy mà phải ủ con đi trốn! "Mà rồi - Thánh Bonaventura hỏi - mà rồi lấy gì mà ăn? Tìm đâu mà ngủ? Trú ngụ nơi nào?"; lương thực của thánh gia trong những ngày u thảm ấy là gì nếu không phải là vài mụn bánh khô mà thánh Giuse đã mang theo hoặc hành khất được? Nhưng đêm đến thì biết nghỉ nơi nào, nhất là lúc băng qua một một miền khoáng dã dài tới hai trăm dặm, theo nhiều tác giả, không một bóng nhà, không một lều quán? Thánh gia phải ngủ trên cát hoặc dưới gốc cây trong rừng, ngay dưới trời sương, liều rơi vào tay đạo tặc hay dã thú rất nhiều ở Ai Cập. Ôi! lúc đó gặp ba lữ khách đó, ba lữ khách sang quí nhất trên đời, người ta sẽ cho là ai, nếu không phải là những hành khất bần cùng không có một túp lều cư ngụ?

Tới Ai Cập, thánh gia định cư ngụ miền Mathariê, theo ý kiến của Brocađô và Giansêniô. Nhưng theo thánh Anselmô thì thánh gia ngụ trong thành phố Hêliopoli, thời xưa là Memphi và ngày nay là thủ đô Le Caire. Nơi đây, thánh gia đã sống một cuộc sống vô cùng nghèo túng trong suốt thời gian lưu ngụ tại Ai Cập, một thời gian kéo dài bảy năm, như thánh Antôninh cùng với thánh Tôma và nhiều tác giả khác quả quyết. Thánh gia hoàn toàn xa lạ, không một ai quen biết; không có một đồng lưng vốn, tiền tài, thân thuộc; phải làm vất vả suốt ngày mới kiếm được đồng mua ăn. Thánh Basiliô viết: "Thánh gia rất nghèo, nên phải rất vất vả mới kiếm được những nhu cầu tối cần để sinh sống". Tác giả Ludônphô Saxa quả quyết một điều rất an ủi các bạn nghèo rằng Mẹ Maria hồi đó rất túng bấn cùng cực, đôi khi không có lấy cả một mẩu bánh cho Chúa Giêsu, lúc Chúa bị cơn đói dằn vặt cần phải có gì đỡ dạ.

Theo thánh Matthêu thuật, sau khi vua Hêrôđê băng hà, Thiên thần lại đến báo mộng cho thánh Giuse, đem lệnh trở về Do Thái. Suy niệm về cuộc hồi cư này, thánh Bonaventura nhận định rằng Mẹ Maria đau khổ nhiều hơn, vì Chúa Giêsu, đã lên bảy tuổi, phải chịu mệt nhọc vất vả trên đường về. Theo thánh Tiến sĩ, "Ở vào tuổi ấy, Chúa Giêsu đã quá lớn không thể bế được nữa, mà lại còn quá nhỏ không đi một mình lâu được".

Hãy đón nhận Hài Nhi

Trước cảnh Chúa Giêsu và Mẹ Maria phải lưu lạc trốn tránh khi ký thế đó, chúng ta phải nhận rằng ở trần gian, chúng ta chỉ là những lữ hành, đừng lưu luyến tài vật phàm trần, những tài vật mà một ngày nào đây, chúng ta s phải từ bỏ để bước vào đời sau. Thánh Phaolô viết: "Vì trên đời này, chúng ta không có thành trì bền vững, nhưng đang tìm kiếm thành trì tương lai" (Dt 13,14), và thánh Augustinô thêm: "Chúng ta là lữ khách trên trần gian, chỉ cần nhìn rồi đi qua là được".

Hơn nữa, chúng ta lại hãy tập quen can đảm ôm lấy thánh giá, vì ở đời này chẳng có ai sống mà không phải khổ. Nữ chân phúc Veronica Binasco, nữ tu dòng thánh Augustinô, một lần đem tâm trí theo Chúa Giêsu và Mẹ Maria trong cuộc tị nạn sang Ai Cập. Sau cuộc hành trình ấy, Đức Mẹ bảo thánh nữ rằng: "Con ơi, chúng ta phải bao vất vả mới sang tới nước này. Do đó, con nên biết chẳng ai được ban ân sủng mà không phải chịu đau khổ". Mà nếu muốn cảm thấy cuộc đời ít khổ đau, thì hãy chịu đau khổ của đời cùng với Chúa Giêsu và Đức Mẹ: "Hãy đón nhận Hài nhi và Mẹ Ngài" (Mt 2,20). Ai âu yếm đón rước Hài nhi Giêsu và Mẹ chí thánh Ngài vào tâm hồn, sẽ thấy mọi nỗi khổ đều nhẹ nhàng, không những nhẹ nhàng mà còn êm dịu khoái vui nữa. Hãy mến yêu Chúa Giêsu và Mẹ Maria, vì ngày nay người ta vẫn còn đang tiếp tục truy nã Chúa Giêsu. Hãy mời Chúa vào ẩn ngụ trong tâm hồn mà ủi an Đức Mẹ.

Cứu Ta với! Giấu Ta đi!

Thánh Nữ Đồng Trinh Maria có lần hiện đến với thánh nữ Colêta, dòng thánh Phanxicô, cho thánh nữ xem thấy Chúa Giêsu Hài Đồng đầy vết thương mà phán rằng: "Con xem tội nhân hành hạ Con Mẹ chừng nào và bắt Chúa lại phải chịu chết làm Mẹ đau đớn chừng nào. Con hãy cầu nguyện cho chúng cải quá đi".

Bà đáng kính Gioanna Giêsu Maria, cũng là nữ tu dòng thánh Phanxicô, một lần đang lúc suy niệm về Chúa Hài Đồng Giêsu bị Hêrôđê cho tầm nã, thì nghe thấy những tiếng ồn ào quát tháo như có một đạo quân rượt đuổi kẻ thù. Rồi, nữ tu thấy một hài nhi khôi ngô, thở hổn hển chạy đến bên mà nói: "Gioanna, cứu Ta với, giấu Ta đi! Ta là Giêsu Nazarét. Các tội nhân theo lối Hêrôđê đang rượt đuổi để giết Ta, Ta trốn vào đây. Cứu Ta với".

Mến yêu Chúa từng bị truy nã

Lạy Mẹ Maria, cho đến bây giờ, loài người đã bắt bớ Con Mẹ và giết chết trên thánh giá rồi, mà người ta còn bội ân phạm tội để truy nã Chúa nữa, và làm cho Mẹ nên một người Mẹ đau khổ rất mực. Thương ôi! cả con đây cũng là một trong số những kẻ vong ân đó. Lạy Mẹ rất khoan nhân, xin cho con được khóc lóc tội bội bạc tối tăm ấy. Xin vì những đau khổ Mẹ chịu trên đường sang Ai Cập, Mẹ hãy giúp đỡ con trên đường về cõi đời đời, để con được phúc ở bên Mẹ, trong nơi vĩnh phúc, mến yêu Chúa đã từng bị truy nã vì con. Amen.

(Trích sách, VINH QUANG ĐỨC MARIA)