| Chúa Nhật Chúa Giêsu chịu phép rửa |
| GÓP NHẶT |
|
Suy Niệm của Br John Quốc Toản, CMC “Con yêu dấu” Mt 3:13-17 Trong bối cảnh Giáng Sinh, Chúa Giêsu tỏ mình ra cho dân ngoại qua vì sao sáng từ trời cao hướng dẫn ba nhà Bác học từ Đông phương đến thờ lạy Ngài. Và từ đó Ngài đã sống một cưộc sống ẩn dật cho đến năm ba mươi tuổi. Trước khi khởi đầu sứ mạng, Chúa Giêsu lại tỏ mình ra lần nữa qua biến cố chịu phép Rửa. Tin mừng thánh Matthêu hôm nay công bố Ngài là Tôi tớ (Con) của Giavê. Khi Chúa tỏ mình ra lần này từ trời cao có tiếng phán : “Này là Con Ta yêu dấu...” Con yêu dấu chứa đựng một sứ mạng trở nên người Tôi tớ mà tiên tri Isaia diễn tả trong bài đọc I : “Này là tôi tớ Ta mà Ta nâng đỡ, là người Ta chọn, Ta hài lòng về người... Người sẽ xét xử chư dân... không lớn tiếng... không bẻ gẫy cây lau bị giập, không dập tắt tim đèn còn khói... mở mắt người mù, đưa ra khỏi tù những người bị xiềng xích, đưa ra khỏi ngục những người ngồi trong tối tăm” (Is 42:1-4,6-7) Lời diễn tả của tiên tri Isaia về sắc thái và sứ mạng của Chúa Giêsu cho chúng ta một ý niệm sâu xa hơn về con người của Ngài. Ngài là “Đấng vị tha”. Chúa Giêsu luôn sống cho tha nhân. Ngài đồng hành với tha nhân trong mọi biến cố của cuộc đời và đã thí mạng sống vì phần rỗi tha nhân. Chỉ trong tâm tình cầu nguyện chúng ta mới cảm nhận được tình yêu này và sẽ yêu mến Ngài hơn. Chúa Giêsu đã khởi đầu sứ mạng “mở mắt người mù, đưa ra khỏi tù những người bị xiềng xích, đưa ra khỏi ngục những người ngồi trong tối tăm” bằng việc chịu phép rửa. Khi chịu phép Rửa tội, bất kể lúc còn bé hay khi đã lớn, chúng ta cũng được trở nên “con yêu dấu của Thiên Chúa”, một thành phần trong Giáo hội mà Chúa Giêsu là đầu. Là thành phần của Giáo hội, chúng ta có sứ mạng cộng tác với Chúa Giêsu trong việc đem Tin mừng yêu thương đến cho mọi người. Chúng ta phải thi hành sứ mạng này tùy theo khả năng và hoàn cảnh của mình. Trong bài Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu nhắc nhở mỗi người phải thi hành trách nhiệm đó khi Ngài nói với Gioan: “.. chúng ta cần chu toàn bổn phận như thế” (Mt 3:15). Chúa Giêsu có ý nói là mọi thành phần trong Giáo hội đều có phần trong việc truyền bá Tin mừng yêu thương. Chúng ta đừng tưởng là việc truyền bá Tin mừng là của các nhà truyền giáo, các linh mục và các tu sĩ nam nữ. Nên biết rằng mỗi người đều có bổn phận này tùy theo bậc sống của mình. Là linh mục, hãy sống đúng với vai trò chủ chăn hiền lành. Là những tu sĩ nam nữ, hãy phục vụ Chúa qua tha nhân. Là bậc cha mẹ, hãy yêu thương nhau, yêu mến và dạy bảo con cái cho đúng nghĩa. Nói cách khác là mọi người, bất kể linh mục, tu sĩ hoặc giáo dân, hãy trở nên “một con người vị tha” như Chúa Giêsu. Chúa Giêsu, Thầy của những người vị tha, đã dậy và làm gương cho ta. Trong ba năm giảng đạo, Ngài đã tỏ tình yêu của Chúa Cha cho nhân loại bằng những việc: cho người mù được thấy, người què đi được, người điếc được nghe và người chết sống lại. Ngài đem bình an và tình thương đến những người bất hạnh trong xã hội. Là con người trưởng thành và có trí thức, ai trong chúng ta cũng phải nhận rằng cuộc sống chỉ có ý nghĩa thật sự khi sống tinh thần phục vụ tha nhân. Khi chấp nhận sứ mạng, Chúa Kitô đã trở nên “Đấng vị tha”. Chúng ta, qua bí tích Rửa tội, cũng có một sứ mạng. Mỗi người hãy tự hỏi sứ mạng của tôi là gì và tôi đã chu toàn nó như thế nào? Đừng để cho lòng ích kỷ làm lu mờ tâm trí đến độ không thể nhận ra được sứ mạng của mình. Hãy chu toàn sứ mạng trong khả năng và hoàn cảnh của mình vì Chúa Giêsu đã nhắc nhở “... chúng ta cần chu toàn bổn phận như thế” (Mt 3:15) để đáng được gọi là “con yêu dấu”. PRIVATENguồn: NS Trái Tim Đức Mẹ Suy Niệm của JKN 1. Đức Giê-su đại diện nhân loại tội lỗi tỏ lòng sám hối trước Thiên Chúa qua phép rửa của Gioan. Theo niềm tin Ki-tô giáo, Đức Giê-su là Thiên Chúa xuống làm người để cứu chuộc nhân loại, Ngài hoàn toàn vô tội, nghĩa là không vướng phải một khuyết điểm hay một tội lỗi nào, dù là nhỏ nhất. Ngài trong sạch hoàn toàn, và tuy có bị cám dỗ, Ngài không bao giờ sa ngã hay để ma quỉ chiến thắng. Thế mà trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giê-su lại chịu phép rửa bởi ông Gioan, người tiền hô cho Ngài. Theo sự thường, đúng ra Ngài không nên chịu phép rửa, vì phép rửa là một dấu hiệu sám hối, chỉ dành cho những kẻ có tội. Có tội lỗi thì mới cần sám hối, có dơ bẩn thì mới cần tẩy rửa, còn "ai đã sạch rồi, thì không cần phải rửa" (Ga 13:10). Nhưng ở đây, việc rửa tội của Đức Giê-su mang một ý nghĩa hết sức đặc biệt. Cá nhân Ngài tuy hoàn toàn vô tội, nhưng Ngài mang một sứ mạng đặc biệt là gánh tội trần gian, và chịu chết để đền tội cho trần gian trước mặt Thiên Chúa. Vì thế, Ngài đã trở thành "hiện thân của tội lỗi", như thánh Phaolô nói: "Thiên Chúa đã biến Người thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta" (2 Cr 5:21). Chính trong chiều hướng ấy, việc rửa tội của Ngài mới có ý nghĩa. Nếu không, việc ấy thật là phi lý. Nếu Ngài chịu chết để đền tội thay cho cả loài người chứ không phải cho Ngài, thì cũng vậy, Ngài tỏ lòng sám hối và rửa tội là sám hối và rửa tội thay cho cả nhân loại chứ không phải là cho bản thân Ngài. Vì thế, Thiên Chúa đã tỏ ra hài lòng về hành động khiêm nhượng ấy của Ngài, nên ngay sau đó đã phán về Ngài: "Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người". Hai điều tối quan trọng để được Thiên Chúa tha tội là sám hối và đền tội. Thiếu một trong hai thì tội không thể tha được. Vì đại diện cho cả một nhân loại tội lỗi, Ngài đã tự coi mình là tội lỗi, nên Ngài thấy cần phải biểu lộ sự sám hối qua nghi thức rửa tội của Gioan. Ngài cũng đại diện cho cả nhân loại khi đền tội cho họ bằng cái chết thảm thương trên thập giá vào trưa thứ sáu trước lễ Vượt Qua năm Ngài 33 tuổi. Như vậy giữa việc rửa tội hôm nay và cái chết của Ngài có một tương quan sâu sắc và đầy ý nghĩa. 2. Bài học từ biến cố chịu phép rửa của Ngài Ngài là người hoàn toàn vô tội: "Nơi Người không có tội lỗi" (1Ga 3,5). Thế mà vì yêu thương nhân loại, Ngài đã sẵn sàng nhận hết tội lỗi của cả nhân loại về cho mình. Điều đó chẳng làm cho chúng ta suy nghĩ và rút ra một bài học sao ? Chúng ta ai nấy đều có tội không nhiều thì ít, thế mà rất nhiều khi ta lại không muốn nhìn nhận mình là kẻ có tội. Ta tìm đủ cách để người khác nghĩ về ta tốt hơn thực trạng hay bản chất của ta. Nhiều khi ta còn giả hình để người khác lầm tưởng rằng ta rất tốt, ta vô tội. Nếu có ai nói xấu ta, thậm chí rất đúng, ta cũng tỏ ra bực bội hay thù ghét người ấy. Ta không muốn nhìn nhận thực trạng xấu xa của mình. Trong những cuộc tranh luận, nhiều khi ta thấy mình sai trái, đuối lý, nhưng ta không có can đảm nhận phần sai trái về phía mình, mà cứ cãi chầy cãi cối để khỏi phải nhận lỗi, thậm chí còn kết án ngược lại cho người khác. Như thế, ta đã tự chứng tỏ mình thiếu thành thực và không ngay thẳng. Khi một người khác bực bội, tức giận vì một thiệt hại nào đó mà họ nghĩ là do ta gây ra, lúc đó ta thường xử sự thế nào? Nếu ta có lỗi thật sự, ta có dám nhìn nhận mình có lỗi để người kia nguôi cơn giận không ? Thiết tưởng nhận lỗi mình lúc đấy là một bổn phận của đức công bằng. Nếu không nhận lỗi, ta còn làm cho sự bất công ấy nặng thêm, vì làm cho người kia tức giận hơn nữa, tức làm khổ họ, và có thể gây hại cho họ về tâm lý hoặc thể lý. Việc can đảm nhận lỗi trong những trường hợp như thế không bao giờ làm giảm giá trị con người ta, mà còn khiến người khác thêm kính phục ta. Trái lại, có lỗi mà không chịu nhận mới đáng hổ thẹn và đáng khinh bỉ. Nếu ta hoàn toàn không có lỗi, nhưng vì người kia hiểu lầm, nên trong cơn tức giận, họ nhất quyết đổ lỗi cho ta, thì ta xử sự thế nào ? Ta có thể trước hết giải tỏa cơn giận cho họ đã, chẳng hạn bằng cách tạm thời nhận lỗi về phía mình, rồi chờ khi họ bớt giận, nghĩa là có đủ sáng suốt và khách quan, thì cho họ thấy rõ ai phải ai trái. Đó là một hành động khôn ngoan và bác ái, vì trong cơn tức giận vì bị thiệt hại quá mức, theo tâm lý thường tình, người ta có nhu cầu tâm lý là phải trút cơn giận đó lên người khác để cơn giận được thỏa mãn. Lúc đó, họ không đủ sáng suốt để nhận ra lỗi của mình, vì giận chính là tình trạng điên khùng hay mất trí trong giây lát. Những lúc đó họ chỉ biết đổ lỗi lên đầu người khác cho hả giận. Khi có người nhận lỗi, cơn giận của họ giảm đi ngay như lửa bị tạt nước vào. Biện minh cho việc mình vô tội lúc ấy thường giống như đổ thêm dầu vào lửa, chỉ làm cơn giận của họ bùng lên mạnh mẽ hơn, không làm cho họ nhận ra lỗi của họ, và cũng chẳng giải quyết được gì. Kinh nghiệm cho tôi thấy : thường sau khi họ được thỏa mãn cơn giận, tâm trí họ sáng suốt hơn, và họ dễ dàng nhận ra lỗi của họ. Thói đời là ta càng đổ lỗi cho người khác, thì họ càng có khuynh hướng chữa lỗi và tìm cách đổ lỗi lại cho ta. Còn nếu ta khiêm nhượng nhận lỗi về phía mình, thì người kia tự nhiên có khuynh hướng tự xét mình, nhờ đó dễ dàng nhận ra sai trái của họ. Và sau đó họ thường nể phục tư cách và lối xử sự của ta. Trong mọi trường hợp, hãy bắt chước Đức Giê-su, dù hoàn toàn vô tội, vẫn sẵn sàng mặc lấy thân phận kẻ tội lỗi và chịu đối xử như kẻ có tội. 3. Dám nhận trách nhiệm về phía mình là một dấu chứng của người lãnh đạo trưởng thành Trong các tập thể - như gia đình, xã hội, Giáo Hội - ta thường thấy những chuyện như: khi có chuyện thành công hay tốt đẹp xảy ra, người lãnh đạo thường nhận ra công của mình trong đó, và sẵn sàng đón nhận những lời tán tụng, tri ân, và những lợi lộc từ sự thành công ấy. Nhưng khi thất bại hoặc có sự cố đáng tiếc xảy ra, cấp lãnh đạo thường tìm cách đổ lỗi hoặc qui trách nhiệm cho cấp dưới, hoặc cho hoàn cảnh, còn mình thì "lấy nước rửa tay" kiểu Phi-la-tô: "Ta vô can trong vụ … này" (Mt 27,24). Và sau đó thì cấp dưới lãnh đủ những thiệt hại do sự cố đáng tiếc ấy: bị la rầy, bị phạt, mất uy tín, phải bồi thường, tù tội, v.v… Còn người lãnh đạo thì hoàn toàn vô sự, mặc dù trong thực tế sự đáng tiếc ấy chủ yếu hoặc phần nào là do sự lãnh đạo thiếu sáng suốt của mình. Phải chăng Kinh Cáo Mình với câu "lỗi tại tôi, lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng" chỉ được đọc duy nhất ở trong thánh lễ và những buổi đọc kinh, chứ rất ít khi được "đọc" (=thể hiện) trong đời sống thường nhật. Đạo của chúng ta phải chăng chỉ được thực hành ở trong chứ không phải ở ngoài nhà thờ, đang khi 99% thì giờ của chúng ta lại là ở ngoài nhà thờ! Theo tinh thần Kinh Cáo Mình, ta cần nhạy bén trong việc nhận ra phần lỗi - trực tiếp hay gián tiếp - của mình trong mọi điều xấu xảy ra nơi gia đình, đoàn thể, ngoài xã hội hay trong Giáo Hội của ta. Có những việc hết sức đáng tiếc xảy ra mà ta tưởng chừng mình vô can, nhưng xét cho kỹ rất có thể ta có lỗi vì đã tỏ ra thờ ơ, không can thiệp theo lương tâm khiến cho những việc ấy xảy ra. Không dám nhận trách nhiệm về phía mình dù là cấp lãnh đạo hay cấp dưới đều là dấu chứng của sự thiếu trưởng thành về mặt tâm linh và xã hội hay Giáo Hội. Thiết tưởng chúng ta nên suy niệm bài Tin Mừng hôm nay để chỉnh sửa lại cách hành xử sai trái ấy. Đức Giêsu vô tội hoàn toàn, nhưng Ngài sẵn sàng nhận lấy trách nhiệm của cả nhân loại về phía mình. Ngài đã hành xử như một kẻ có tội cần phải sám hối, phải xin lỗi trước mặt Thiên Chúa bằng nghi thức rửa tội. Không chỉ như thế, Ngài còn sẵn sàng đền bù với giá cao nhất là mạng sống của Ngài những tội lỗi mà Ngài đã tự qui về cho mình thay cho cả nhân loại. Hành động của Ngài thật hết sức anh hùng và dũng cảm. Đức Ki-tô thì hành động như thế, chẳng lẽ các Ki-tô hữu, những kẻ theo Đức Ki-tô, những môn đệ của Ngài, những "Ki-tô khác" lại hành động khác với Đức Ki-tô sao? Nếu không giống Ngài 100% thì ít ra cũng phải được 50%, hay ít nhất cũng phải 40 hay 30%! Nếu không thì sao ta lại dám tự nhận mình theo Ngài? là môn đệ Ngài? Ta theo Ngài ở chỗ nào? là môn đệ Ngài ở chỗ nào? Cần xét lại xem: coi chừng kẻo ta chính là môn đệ của Phi-la-tô mà lại cứ lầm tưởng và tự xưng là môn đệ của Ngài! Cầu nguyện Lạy Cha, xin cho con lòng can đảm như Đức Giê-su, dám sẵn sàng nhận lỗi về phía mình, cho dẫu mình hoàn toàn vô tội! Khi có những chuyện đáng tiếc xảy ra, xin cho con đủ can đảm để dám nhận lãnh trách nhiệm về phía mình, không đổ lỗi cho người khác, nhất là cho những người cấp dưới mà con có bổn phận phải bao bọc chở che ! Nếu họ có lỗi, họ sẽ chịu trách nhiệm trước con, chứ không phải trước mặt ai khác. Nhưng con phải sẵn sàng chịu trách nhiệm thay cho họ trước mặt mọi người. Amen. Suy Niệm của Lm Augustine S.J. Phép Rửa trong bối cảnh văn hóa Lời đầu tiên của Đức Giêsu trong Tin Mừng Mattheu là lời yêu cầu ông Gioan Tẩy giả làm phép rửa cho Ngài; lý do được nêu lên là để làm trọn ý của Thiên Chúa (c.15). Phép rửa mà Ngài muốn lãnh nhận không phải là điều xa lạ đối với bối cảnh văn hoá Đức Giêsu đã nhận làm bối cảnh văn hoá của mình. Nhưng ý nghĩa của phép rửa ấy so với phép rửa Đức Giêsu truyền cho các môn đệ thực hiện cho muôn dân (Mt 28,19), ý nghĩa ấy có những đặc sắc nào ? Trước thời Đức Kitô. - Phép rửa bằng nước khá thịnh hành tại Ai cập, Babilon, Ấn độ và trong một số tôn giáo gốc Hy lạp. Phép rửa ấy từng được thực hiện tại bờ sông Nilô, sông An Phát (Euphrate), sông Giang tử (Gange) của Ấn độ nhằm mục đích thanh tẩy người khỏi những bất xứng về luân lý hoặc về nghi lễ, đôi khi để tăng sinh lực và mang lại tính bất tử. Riêng trong tôn giáo Ít-ra-en. Dìm mình trong nước là phương tiện thanh tẩy theo luật dạy đối với người phong hủi (Lv 14,8), đối với ô uế về giới tính (Lv 15,16-18). Các đồ vật phải được rửa trước khi dùng (Lv 11, 32-40). Ngoài những bó buộc theo Luật, các thầy thông luật còn đưa ra một số điều buộc khác như rửa tay, rửa chén bát, rảy nước trên những đồ mua ở chợ về v.v…(x.Mc 7,1-5). Điều đáng lưu ý là các thầy Pharisêu còn thiết lập một số nghi thức về trong sạch, trong đó có nghi thức làm phép rửa cho người tân tòng muốn nhập đạo Do thái. Nghi thức này nhằm mục đích thanh tẩy người tân tòng mới trở lại, lý do vì người đó xuất xứ từ thế giới ngoại đạo là thế giới mà người Do thái kể là ô uế (Ga 18,28; Cv 10,28). Phép rửa do ông Gioan Tẩy giả được thực hiện trong nước sống Giođan đối với những người nhờ nghe ông giảng nên thống hối ăn năn và xưng thú các tội của mình. Phép rửa này ăn khớp với bối cảnh Do thái đã có sẵn những cuộc thanh tẩy được thực hiện, tuy với những đặc sắc riêng của ông Gioan. Đó là phép rửa tỏ lòng thống hối nhắm tới ơn tha tội (Mc 1,4; Lc 3,3) nên khác hẳn các nghi thức thanh tẩy chỉ nhằm đáp ứng những điều luật buộc mà thôi, không diễn tả một biến chuyển nội tâm (metanoia). Nhưng phép rửa của ông Gioan chỉ mới loan báo Nước Thiên Chúa đang đến, còn phép rửa của Đức Kitô cho thấy Nước đó đã được khai trương nhờ Chúa Thánh Linh (Cv 19,1-6). Các sách Tin Mừng và sách Công Vụ Tông Đồ phân biệt phép rửa của Gioan là phép rửa trong nước; còn phép rửa Kitô giáo là phép rửa trong Thánh Thần (Mt 3,11; Mc 1,8; Lc 3,16; Ga 1,33; Cv 1,5;11,16). Phép rửa Kitô giáo bắt đầu từ Đức Kitô Phép rửa Kitô giáo bắt đầu từ Đức Kitô, Đấng đã khiêm nhường xin ông Gioan Tẩy giả làm phép rửa cho mình tại sông Giođan. Tin Mừng Matthêu (3,13-17) và Máccô (1,9-11) đều thuật lại biến cố này. Tin Mừng Luca (3,21-22) chỉ nhắc tới biến cố cách thoáng qua nhưng nhấn mạnh điều xảy ra trước và sau biến cố ấy. Luca cho thấy “khi toàn dân đã chịu phép rửa, Đức Giêsu cũng chịu phép rửa” (3,21). Liền sau đó, đang khi Người cầu nguyện, thì từ trời mở ra, và Thánh Thần ngự xuống trên Người. Lại có tiếng từ trời phán rằng: Con là Con của Cha, ngày hôm nay, Cha đã sinh ra Con.” (c.22). Như vậy, Đức Giêsu hiện diện ngay trong hành vi tỏ lòng thống hối của toàn dân nhắm tới ơn tha tội. Một đàng, Ngài không tách rời khỏi dân trong hành vi quan trọng này; đàng khác, chính Ngài cứu dân Ngài khỏi tội lỗi của họ.” (Mt 1,21). Bằng cách nào? Bằng cách chịu đóng đinh trên thập giá mà vẫn cầu nguyện “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” (Lc 23,34). Tại sao Đức Giêsu là Đấng vô tội tuyệt vời lại có thể chịu phép rửa do ông Gioan Tẩy giả là phép rửa để xin ơn tha tội ? Mt 3,15 giải đáp khi nói rằng Đức Giêsu làm thế là để giữ trọn đức công chính, nghĩa là để chu toàn ý Thiên Chúa. Còn Luca cho thấy Đức Giêsu hiện diện trong hành vi đó để cầu nguyện nhắm tới sự can thiệp của TC là Đấng duy nhất có thể tha tội cho loài người. Còn Gioan (1,29) cho thấy Đức Giêsu chính là Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa bỏ tội trần gian. Sự hiện diện và hành động cứu độ của Đức Giêsu vượt hẳn cử chỉ của ông Gioan Tẩy giả. Ông chỉ loan báo Đấng sẽ đến tha tội cho loài người mà thôi. Điều quan trọng là màn thần hiệp tiếp nối biến cố Đức Giêsu chịu phép rửa. Cả ba Tin Mừng Mt, Mc và Lc đều tường thuật màn thần hiện này (Mt 13,16-17; Mc 1,10-11; Lc 3,21-22). Đức Giêsu được giới thiệu là một ngôn sứ qua trung gian biểu tượng chim bồ câu hiện diện trong màn thần hiện. Điều được diễn tả là việc khai trương thời đại mới với “các tầng trời mở ra”. Từ nay chính Thiên Chúa, Con của Ngài trong vai ngôn sứ và Chúa Thánh Linh, sẽ hành động cách mới mẻ. Nơi Đức Giêsu chịu phép rửa, ta có mẫu gốc của bí tích rửa tội theo nghĩa là người chịu bí tích này sẽ trở nên con Thiên Chúa và cũng nhận được Chúa Thánh Linh ở với. Thiên Chúa đã muốn đến với chúng ta cách rất nhân loại Thiên Chúa đã muốn đến với chúng ta cách rất nhân loại và hữu hình. Chúng ta cảm nghiệm được Ngài qua nhân tính của Đức Kitô, qua Hội Thánh là dấu chỉ của Chúa Kitô. Nhờ đó Ngài thông ban Thánh Thần là tình yêu và sức mạnh của Thiên Chúa cho ta. Đó là ý nghĩa của các bí tích, ta gặp gỡ Chúa Kitô và có thể nói rằng ta đụng chạm tới Ngài. Nhờ Đức Kitô, Lời Thiên Chúa vang lên trong Hột Thánh và mời gọi con người tin. Lời đó mạc khải cho tín hữu một kế hoạch cứu độ. Toàn thể tạo thành bao gồm mọi thọ tạo và loài người, cùng với lịch sử quá khứ, hiện tại và tương lai, đều được đưa vào kế hoạch này, để đưa tới sự hoàn thành của chúng ta. Vậy Nước Thiên Chúa được Lời Chúa loan báo, được tiếp nhận trong đức tin, trở nên hiện diện cách hữu hình, cụ thể qua các bí tích. Phép rửa là bước gia nhập đời sống Kitô hữu và Nước Thiên Chúa, chính là bí tích thứ nhất của Tân Ước. Để ta có được sự sống mới : Chúa Kitô đã thiết lập bí tích này để tất cả chúng ta có được sự sống mới. Ngài giao bí tích thánh tẩy cho Hội Thánh của Ngài cùng với Tin Mừng : “Các con hãy đi dạy dỗ muôn dân, thánh tẩy họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, dạy họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho các con.” (Mt 28,19). Do đó thánh Phêrô đã khuyến cáo đám đông nghe Ngài trong ngày lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống : “Hãy hối cải và mỗi người trong anh em hãy chịu thánh tẩy nhân danh Đức Giêsu Kitô, để được tha thứ các tội lỗi, và anh em sẽ được lãnh ơn Thánh Thần.” Vậy những ai đã lãnh nhận lời tông đồ Phêrô thì chịu thánh tẩy... (Cv 2,38). Thánh tẩy là bí tích của đức tin và là khởi đầu của cuộc sống mới trong Chúa Kitô. Do đó, Hội Thánh hỏi người dự tòng khi người đó xin được chuẩn bị để chịu thánh tẩy: “Con xin gì cùng Hội Thánh Chúa?” “Thưa, con xin đức tin.” “Đức tin mang lại cho con điều gì?” “Thưa, sự sống đời đời.” Thế rồi, trước khi lãnh nhận bí tích thánh tẩy, người dự tòng sẽ tái xác nhận chọn lựa của mình bằng cách công khai từ bỏ tội lỗi và tuyên xưng đức tin của mình trước mặt cộng đoàn. Các trẻ em mới sinh cũng được rửa tội trong đức tin của Hội Thánh. Cha mẹ, các người đỡ đầu, các người hiện diện trong buổi cử hành bí tích thánh tẩy, đều tái cam kết về các lời hứa dịp thánh tẩy và lời tuyên xưng đức tin. Họ cũng cam kết giáo dục các trẻ em trong đời sống Kitô hữu, tới ngày các em trưởng thành để có thể khẳng định sự gắn bó riêng các em với Chúa Kitô và Hội Thánh. Bí tích thánh tẩy luôn là một hành động của cộng đoàn Kitô hữu. Hành động ấy tập hợp người chịu phép rửa vào cộng đoàn mà Chúa Kitô, qua Thánh Thần, đã thiết lập nên mạch suối ơn cứu độ. Cộng đoàn ấy ẵm bồng con cái “mới sinh” nâng niu dìu dắt qua các giai đoạn kế tiếp của cuộc hành trình đức tin. Nhưng, ngược dòng thời gian, mẫu gốc của bí tích thánh tẩy của Hội Thánh đã xuất hiện tại sông Giođan. Đức Giêsu, Đấng trong trắng vô tội đã khiêm nhường chịu phép rửa của ông Gioan Tẩy giả. Con Thiên Chúa vô tội đến ở giữa chúng ta là tội nhân để cứu độ chúng ta. Cử chỉ này mạc khải ý nghĩa của cả đời Ngài. Ngài chẳng cần phải sám hối và chịu thánh tẩy nhưng Ngài đã chấp nhận để cho mình bị luận án bất công và bị kết án tử chính là để cứu độ ta. Một số câu hỏi gợi ý 1. Vì sao Đức Giêsu là Đấng vô tội lại vui lòng chịu phép rửa của ông Gioan Tẩy giả, là phép rửa xin ơn tha tội? 2. Tại sao các trẻ em mới sinh mà đã được chịu phép thánh tẩy. Ai là người có trách nhiệm giáo dục đức tin cho các em? Giáo dục các em như thế nào và cho tới khi nào? Suy Niệm của Lm Bùi Quang Tuấn, CSsR NÊN THÁNH Ngày nay nói đến nên thánh, người ta dễ liên tưởng đến một Cha Piô năm dấu đạo đức thánh thiện, đến Đức Gioan Phalô, tuy đã già nhưng vẫn xông xáo trong việc quảng bá Tin mừng Phúc âm cho muôn dân, hay một Mẹ Têrêsa dấn thân chăm sóc cho những người cùng khổ. Dường như nhắc đến "thánh" là nhắc đến những khuôn mặt dấn thân, tu trì... và không thấy giáo dân đâu hết ! Phải chăng làm giáo dân khó nên thánh ? Không đi tu, chỉ mong "lọt" qua cửa thiên đàng là mừng, còn ngồi đâu trong đó, xa Chúa hay gần Chúa cũng được rồi chăng ? Có phải vì làm giáo dân cứ phải lăn lộn với đời nên khó làm thánh ? ĐHY Nguyễn Văn Thuận từng viết "Giáo dân cứ nghĩ thánh là phải sốt sắng kinh nguyện, phải xa lánh thế tục, phải hãm mình hy sinh, tức là phải giống như các nhà tu thời xưa. Trong khi các tu sĩ lại nghĩ rằng thánh là phải dấn thân giúp đời, phải lăn lộn hoạt động xã hội chính trị, phải tranh đua với giáo dân mà nhập thế. Thành ra loạn xà ngầu ! Giáo dân muốn sống như nhà tu, nhà tu lại muốn sống như người trần thế." Không. Nên thánh không phải là cứ làm theo những gì mình nghĩ hay muốn. Song, nên thánh là sống những gì Chúa muốn và Chúa dạy. Chúa muốn mưa, con muốn mưa. Chúa muốn nắng, con muốn nắng. Chúa muốn vui sướng, cực khổ, thành công, thất bại, con cũng muốn như vậy. Như thế nên thánh không phải là đạt đến giây phút được thoả mãn như ý mình vì đã làm được việc này cho Chúa hay chuyện kia cho Giáo hội, nhưng là khi Chúa được như ý nơi con người của tôi, dù khi chẳng có chút gì thành công. Vậy nên, những ai biết đón nhận thánh ý Chúa trong cuộc đời, biết cộng tác để thánh ý Ngài được thực thi, họ đều là thánh. Chúa Giêsu được gọi là Thầy Chí Thánh hay Đấng Cực Thánh là do đâu, nếu không phải vì Ngài đã luôn hết tâm thi hành ý Cha. Đức Giêsu từng nói đi nói lại với các môn đệ: "Ta từ trời xuống không phải để làm theo ý Ta, mà là ý của Đấng đã sai Ta" (Ga 6:38); và "Lương thực của Ta là làm theo ý Đấng đã sai Ta, và chu toàn công việc của Người" (Ga 4:34). Thi hành bổn phận của mình chính là tiến trình nên thánh chắc chắn nhất mà Lời Chúa trong ngày lễ Chúa Chịu Phép Rửa muốn nói với chúng ta. Số là trong hôm khởi đầu sứ mạng công khai, Đức Giêsu đi đến với ông Gioan Tiền hô bên sông Giođan để xin thanh tẩy. Gioan nhận ra Ngài là Đấng vô tội, là Chiên Thiên Chúa nên vội thoái thác : "Đáng lẽ Ngài phải rửa cho tôi, chứ đời thuở nào tôi lại rửa cho Ngài." Nhưng Đức Giêsu nói với ông : "Cứ làm đi ! Vì chúng ta cần chu toàn bổn phận như thế." Đây là lời nói được ghi nhận trước nhất trong cuộc đời công khai của Đức Giêsu. Phải chăng Ngài muốn mở ra cho con người một chân trời mới: một con đường nên thánh qua việc chu toàn bổn phận Thiên Chúa trao ban. Thế thì đâu chỉ có các linh mục, tu sĩ, thừa sai, hay giáo hoàng mới có bổn phận và mới có thể làm thánh. Đúng hơn, tất cả mọi người đều có một trách nhiệm nào đó và đều có thể thánh hoá mình trong bổn phận. ĐHY Nguyễn Văn Thuận có viết : "Người thợ nên thánh ở công xưởng, người lính nên thánh ở bộ đội, bệnh nhân nên thánh ở bệnh viện, học sinh nên thánh ở học đường, nông phu nên thánh ở ruộng rẫy, linh mục nên thánh trong mục vụ, công chức nên thánh ở công sở. Mỗi bước tiến là một bước hy sinh trong bổn phận" (ĐHV 24). Bổn phận không chỉ gắn liền với công việc nghề nghiệp, nhưng còn với chức năng. Chức năng đó có thể là cha, mẹ, vợ, chồng, con cái, lãnh đạo, giáo dục... Không thể chỉ "mang chức" mà “từ năng", không thể chỉ có danh xưng mà nền tảng cần thiết làm nên danh xưng ấy lại không được thi hành. Mặc khác, không thể nên thánh nếu không có Chúa. Vì Ngài là Đấng Thánh. Muốn nên thánh là phải đón nhận Chúa làm tâm điểm cuộc sống, để rồi nhờ Ngài với Ngài và trong Ngài, con người chu toàn và được tác thánh qua bổn phận của mình. Có một điểm rất đáng ghi nhận từ Thánh Kinh : trong suốt quảng đời thi hành ý Cha trao phó, Đức Giêsu không ngừng gắn bó với Cha qua việc nguyện cầu. Ngài liên lỉ cầu nguyện: trong gia đình, nơi đền thánh, trên đường đi, chốn sa mạc, trong rừng vắng.... Ngài cầu nguyện ban ngày lẫn ban đêm, lúc vui cũng như khi buồn, trước phép lạ lẫn sau khi giảng dạy. Thậm chí còn cầu nguyện ngay trước lúc tắt thở: "Mọi sự đã hoàn tất" (Ga 19:30), "Lạy Cha, Con phó thác hồn con trong tay Cha" (Lc 23:46). Nếu khi màn chiều buông xuống hay lúc ngày đời chấm dứt, tôi cất lên được lời nguyện cuối cùng của Chúa Giêsu - "Mọi sự đã hoàn tất, con xin phó thác hồn con trong tay Cha"-thì tuyệt vời và hạnh phúc cho tôi biết bao. PRIVATENguồn: NS Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp Suy Niệm của Lm Nguyễn Bình An Ngày 16 tháng 10 năm 1995, khoảng 400 ngàn người da mầu về thủ đô Hoa Thịnh Đốn tham dự ngày “Million men march”. Cả thế giới đứng tim vì nghĩ rằng sẽ có bạo động. Nhưng thực tế đã khác hơn dự đoán. Không riêng gì ông Louis Farakhan, mà cả cộng đồng dân gốc Phi-Mỹ đều cảm thấy bất ổn và tự ti vì sắc dân của họ. Nhiều gia đình và con cái bị bỏ rơi. Tội ác tăng trưởng quá nhanh trong cộng đồng da đen. Tỷ số thanh thiếu niên bỏ học rất cao, hút sách nhiều và tù tội quá lố. Khu phố họ sống rất tệ rạc, ồn ào và thiếu vệ sinh. Công việc họ làm nặng nhọc mà lương bổng thấp. Họ thẳng thắn nhận diện khuyết điểm và quyết danh tân. Họ đã thức tỉnh, họ đã biết tự trọng, họ can đảm nhận trách nhiệm và họ được tái sinh khi quyết canh tân. Ông Farakhan thách thức các chủ gia đình “hãy về thay đổi lối sống, hãy về chăm chỉ học hành, hãy về chăm sóc gia đình, hãy về chứng tỏ niềm tin của mình nơi Maisen, nơi Giêsu và nơi Mohamet”. Thính giả nhiệt tình hưởng ứng và ai nấy đều ra về trong một tinh thần mới : thống hối, canh tân, tự trọng và thăng tiến. Với thành quả trên, ông Farakhan đã trở nên một lãnh tụ quan trong và nổi tiếng. Vì ông đã tranh đấu cho bình đẳng, tự do và nhân quyền. Vì ông đã kêu gọi cộng đồng người da đen hãy tự trọng, tự cứu mình, tự xây dựng tương lai và nhất tề tạo cho mình một thế đứng hiển hách và oai phong trong cộng đồng nước Mỹ và trên thế giới. Tinh thần của ngày “một triệu người diễn hành” chính là hướng đi và cái mốc tối của mỗi tín hữu khi Giáo hội cử hành biến cố Đức Kitô chịu phép Rửa tại sông Jordan. Đức Kitô không thị hiếu như một số người đi ngó xem Gioan Tẩy giả làm gì, sống ra sao và giảng dậy thế nào ! Ngài khiêm tốn nối đuôi những người thiện chí đến xin Gioan cử hành phép Rửa thống hối như một quyết tâm trước khi lên đường làm sứ mạng. Gioan đã sững sờ khi nhận ra Ngài trong đám đông và hoảng hốt thân thưa: “Xin Thầy rửa tôi, tôi đâu dám rửa thầy !” và Đức Kitô khiêm tốn trả lời: “hãy chu toàn bổn phận của ông, chúng ta phải thực thi ý Chúa và giữ trọn luật.” Đức Kitô đã không cho là hèn, là tầm thưởng, là ngoại lệ khi khiêm tốn đến với Gioan. Tâm tình vâng phục và khiêm hạ này đã làm Chúa Cha hài lòng và cảm động khi ban Thánh Linh và công khai tuyên dương: “đây là Con dấu yêu của Ta, hãy nghe lời Ngài”. Vì Ngài vâng phục, xả thân, quên mình và coi bản thân Ngài như kém Gioan một bậc, dù Ngài đã dựng nên Gioan, nên Chúa Cha đã nhủ chúng ta vâng lời và theo gương Ngài. Có lẽ chúng ta đã đọc sách thánh và nghe lời giảng dậy hay chia sẻ Lời Chúa nhiều lần. Có lẽ tâm chúng ta đã bị đánh động và quyết tâm vài lần. Có lẽ chúng ta đã có những dự án hay chương trình hành động. Nhưng tình trạng dậm chân tại chỗ, với cuộc sống tầm thường hay sút kém là dấu chỉ chúng ta chưa cố gắng đủ để vượt qua các hy sinh, chướng ngại, khó khăn và chưa thoát ra cái vỏ sò cứng ngắc hay cái tôi nhiễm đặc : “tham sân si" đang giam cầm và gậm hấm chúng ta. Ngoan hiền trong thánh đường, nhu mì khi đến toà Hòa giải, sốt sắng khi lên rước Chúa, rộng lượng khi dâng cúng là những dấu hiệu khởi sắc và đáng khuyến khích, nhưng chưa đủ. Chúng ta không được dừng lại ở đó. Hãy đem đạo vào đời, vào công sở, vào thương trường, vào nghề nghiệp và nhất là hãy sống đạo trong khuôn viên gia đình và trong các sinh hoạt tôn giáo. Hãy để ngũ thường “nhân, nghĩa, lễ, trí, tín” có cơ hội trưởng thành, phát triển và sinh hoa trái. Việc tu thân đã hoàn tất và tề gia đã ổn định, chúng ta sảng khoái bước sang lãnh địa trị quốc và tự tin giang tay bình thiên hạ. Cuối cùng chúng ta sẽ như Giêsu trở thành những người con dấu yêu của Chúa Chá, được sai đi làm sứ mạng cứu nhân độ thế và làm chúng nhân cho công bình, bác ái, yêu thương và tự do giữa nhân gian. PRIVATENguồn: NS Dân Chúa Mỹ Châu Suy Niệm của Lm Paul-Maurice Lâm Thái Sơn Này là Con yêu dấu của Ta, Con đẹp lòng Ta Mt 3: 13-17 Hôm nay Giáo hội mừng lễ Chúa Giêsu chịu Phép Rửa. Chúng ta biết Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, Ngài là Đấng vô tội và luôn trung thành chu toàn thánh ý Chúa Cha trong suốt cuộc đời trần thế. Vậy mà tại sao Chúa Giêsu lại chịu phép Rửa bởi Gioan ở sông Giođan ? Bởi vì Chúa Giêsu không tự cho mình cao trọng vượt trên người khác, Ngài muốn chứng tỏ cho chúng ta biết rằng Ngài luôn luôn liên đới với hết mọi người, bằng cách sống trung thành với lề luật và chia sẻ thân phận làm người trong mọi chiều hướng. Sau khi Chúa Giêsu chịu phép Rửa, Ngài liền thấy trời mở ra và Thánh Thần như chim bồ câu ngự xuống trên Ngài. Những hình ảnh "trời mở ra và Thánh Thần như chim bồ câu" có thể làm chúng ta ngạc nhiên, bởi vì thế hệ chúng ta ngày nay thích những gì có tính cách khoa học hơn là những câu văn bóng bảy nên thơ. Tuy nhiên, không vì thế mà chúng ta đành chối bỏ sự hiện hữu của Thần Linh Thiên Chúa, luôn kết hiệp với Đức Kitô và cũng rất cần thiết cho cuộc đời của chúng ta. Ngay từ thuở khai thiên lập địa, Thần linh Chúa bay là trên mặt nước, giờ đây Người cũng hiện diện lúc Chúa Giêsu chịu phép Rửa. Đồng thời, hình ảnh "trời mở ra" mang đầy ý nghĩa: các tầng trời bị che lấp bởi tội lỗi của nhân loại, giờ đây được mở ra trước mặt Đấng Cứu Thế để Thánh Thần Chúa ngự xuống trên Đấng mà Thiên Chúa Cha yêu thương và gọi là "Con yêu dấu". Chúa Giêsu là Đấng đến để làm cho trần gian chúng ta đang bị khép kín vì tội lỗi phải mở toang ra để đón nhận ơn cứu độ. Từ nay, nhờ phép Rửa của Chúa Giêsu, Thiên Chúa không còn là kẻ xa lạ, mà rất gần gũi nhân loại, đất với trời thông đạt với nhau, thiên đình và hạ giới không còn cách biệt. Những gì Chúa Giêsu đã sống như là Con yêu dấu duy nhất của Chúa Cha, thì loài người chúng ta cũng đang được mời gọi sống đúng như là con cái của Thiên Chúa. Thông thường, sống trong hoàn cảnh xã hội thiêng liêng về vật chất, chúng ta hay có những cái nhìn thật phàm trần. Thế giới tân tiến ngày nay đê đánh đổ nhân cách con người và nhìn con người trong chiều kích vật chất trần tục: hạnh phúc, tương lai, và sự cứu độ chỉ nằm trong kỹ thuật. Ví dụ : Muốn có người yêu hãy dùng loại nước hoa này, muốn giữ gìn sắc đẹp và trị các vết nhăn hãy thoa loại kem kia, muốn giàu sang hạnh phúc nên dùng phương thức nọ ... nên bảo vệ môi sinh thì chúng ta sẽ sống lâu bền... hãy thay đổi quy chế xã hội thì chúng ta sẽ sống ấm no hạnh phúc v..v.. Những điều trên đây không phải là không đúng, nhưng rất hạn hẹp và giảm giá trị con người trong tầm mức vật chất, quên đi đức tính siêu việt. Chính vì đắm chìm trong thế giới kỹ thuật vật chất trần tục, mà có nhiều người vẫn tiếp tục sống coi như là không có Thiên Chúa, sống mà không biết rằng nhờ Đức Giêsu Kitô, mọi người đều là con Thiên Chúa. Chúng ta thử nghe câu truyện nầy : Dũng, một thanh niên 15 tuổi, đang học đệ tam, hỏi cha mẹ : “Con đã được Rửa tội chưa ?” Cha mẹ trả lời là chưa. - Vậy thì ba má ? - Có chứ, và còn đi học giáo lý nữa, rồi còn làm đám cưới ở Nhà thờ nữa kia. - Vậy tại sao ba má không xin Rửa tội cho con ? - Vì muốn con tự do lựa chọn. - Nhưng mà làm sao biết lựa chọn, khi con không hiểu một tí gì về Thiên Chúa, phải biết mới lựa chọn được chứ ! Qua câu chuyện nầy, chúng ta thấy trong những năm gần đây, có những bậc phụ huynh, theo trào lưu Âu Mỹ hiện đại, viện cớ là vì tôn trọng tự do của đứa bé, để sau này nó tự quyết định, nên không đưa đứa bé đi Nhà thờ Rửa tội. Ý hưởng tôn trọng tự do này được coi như đúng với điều kiện là khi lớn khôn, đứa bé phải có đủ phương tiện học hỏi, có người hướng dẫn giúp nó hiểu biết và suy nghĩ để định đoạt... bằng không thì thật nguy hại, vì đó là chính sách san bằng đoản hậu. Làm sao đón nhận Thiên Chúa khi mà chưa được nghe nói đến Ngài ? Tại sao một đàng chúng ta lại tự quyết định thay cho đứa bé bằng cách ghi danh cho nó học môn này chương trình nọ (piano, tennis v...v...) và đàng khác ta lại nói là để cho nó tự do lựa chọn. Thật là mâu thuẫn ! Chúng ta đừng quên rằng đạo lý và tôn giáo không phải là việc riêng tư, nhưng có cả tầm vóc xã hội, sự chối từ đường hướng đạo đức sẽ là nguồn gốc cho sự bạo động và khước từ người khác. Vì thế, chúng ta không lạ gì khi thấy thế hệ trẻ ngày nay hoặc thiếu lý lẽ sống hoặc sống trong bạo động... Chính vì vậy mà mỗi người chúng ta cần phải nói với những người khác rằng "tất cả chúng ta không phải là con cái của tăm tối, mà chúng ta được sinh ra để nhận biết Thiên Chúa và đón nhận hồng ân của Ngài, nhờ đó chúng ta có một cuộc sống hoàn hảo, vì chúng ta là con cái của Thiên Chúa." Những bài Phúc âm không phải là những chuyện cổ tích thuộc về quá khứ, nhưng luôn mang tính cách hiện tại, chính hôm nay, bởi lễ Chúa Giêsu chịu phép Rửa mà các tầng trời sẽ mở ra cho chúng ta, để Thần Linh Chúa ngự xuống trên từng người một và được nghe tiếng Chúa Cha vang dội: "Này là con yêu dấu của Ta. Ta đặt trọn vẹn yêu thương trên ngươi". NS DÂN CHÚA ÂU CHÂU Suy Niệm của Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh "Vinh hiển của Người Con duy nhất đến từ Cha, đầy ân sủng và chân lý". Đây là chủ đề thích hợp cho riêng Lễ Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa, một lễ mở màn cho Mùa Phụng Vụ Hậu Giáng Sinh. Bởi vì, bộ ba Phúc Âm Nhất Lãm đều thuật lại sự kiện về "vinh hiển của Người Con duy nhất đến từ Cha" này, tức "về Giêsu Nazarét, Người bắt đầu từ Galilêa chịu phép rửa mà Gioan rao giảng' và về cách thức Thiên Chúa lấy Thánh Linh và quyền năng mà xức dầu cho Người" (bài đọc 2). Theo Phúc Âm thánh Mathêu, "Chúa Giêsu từ Galilêa đến với Gioan ở sông Dược-Đăng để chịu phép rửa của ông", và "sau khi chịu phép rửa xong" thì Người được "Thiên Chúa lấy Thánh Linh và quyền năng mà xức dầu cho Người" (bài đọc 2). Ở chỗ, "Thần Linh Thiên Chúa như một chim câu đậu xuống trên Người". Thêm vào đó, Thiên Chúa còn chính thức giới thiệu "Người Con duy nhất" của mình này với loài người, mà đại diện bấy giờ là Gioan, con người tiêu biểu nhất của loài người (xem Luca 7:28), bằng "tiếng từ các tầng trời vang lên: 'Đây là Con yêu dấu của Ta. Ta ái mộ Người'". Nếu trong Phúc Âm thánh Mathêu, "Người Con duy nhất" này của Thiên Chúa đã được Ngài giới thiệu với loài người, thì trong Phúc Âm của hai thánh Matcô và Luca, "Người Con duy nhất" này lại được chính Thiên Chúa trực tiếp tỏ lòng thương mến đặc biệt, bằng lời thú nhận: "Con là Con yêu dấu của Cha. Cha hài lòng vì Con (hay) Cha sủng ái Con". Ở đây, mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi đã được mạc khải cho loài người biết qua trình thuật của Phúc Âm Nhất Lãm, trong trường hợp Đức Kitô lãnh nhận Phép Rửa ở sông Dược-Đăng. Thiên Chúa Ngôi Cha được biểu hiệu qua "tiếng phán từ các tầng trời" (Phúc Âm cả 3 năm), Thiên Chúa Ngôi Con được sống động nơi hình ảnh của con người Đức Kitô, và Thiên Chúa Ngôi Ba là "Thần Linh" (Phúc Âm năm A và B) hay "Thánh Linh" (Phúc Âm năm C) được biểu hiệu qua "hình chim câu đậu xuống trên Người" (Phúc Âm năm C). Thật ra, theo thần tính của mình, là "Lời ở nơi Thiên Chúa" (Phúc Âm lễ Ban Ngày Giáng Sinh) đã được Thiên Chúa "phán từ các tầng trời" khi "Ngài nói với (con người) chúng ta qua Con của Ngài" (bài đọc 2 Lễ Ban Ngày Giáng Sinh), thì trong mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi được mạc khải ở đây, Thiên Chúa Ngôi Con chính là "tiếng phán từ các tầng trời", tức là "tất cả sự thật" (Jn.16:13) nơi Thiên Chúa được tỏ ra cho loài người, nơi con người của Đức Giêsu Kitô. Như thế, được ngôi hiệp với thần tính, nhân tính của Đức Giêsu Kitô chính là "đường lối" (Jn.14:6) mạc khải của Thiên Chúa. Thế nhưng, Thiên Chúa muốn mạc khải những gì, nếu không phải là tình yêu của Ngài đối với loài người, một thân phận tạo vật được hiện thân nơi con người của Đức Giêsu Kitô, một tình yêu được mạc khải qua nội dung của "tiếng phán từ các tầng trời", đó là "Ta ái mộ Người" (Phúc Âm năm A), hay "Cha sủng ái Con" (Phúc Âm năm B) hoặc "Cha hài lòng vì Con" (Phúc Âm năm C). Do đó, "vinh hiển của Người Con duy nhất đến từ Cha" đây không là gì khác ngoài tình trạng "đầy ân sủng và chân lý" ở nơi Người. "Ân sủng" ở đây là gì, nếu không phải là việc "TC yêu thương..." (Jn.3:16) hay "Thiên Chúa chứng tỏ / mạc khải tình yêu của Ngài..." (Rm.5:8' 1Jn.4:9). Và "chân lý" ở đây là gì, nếu không phải là "Thiên Chúa là tình yêu" (1Jn. 4:8,16). Chính thứ tự của câu "ân sủng và chân lý", trong đó, "ân sủng" được đặt trước "chân lý", đã nói lên động lực và thực tại nơi mạc khải của Thiên Chúa: vì yêu thương (ân sủng) Thiên Chúa đã mạc khải tình yêu là bản tính của Ngài ra (chân lý). Vì việc mạc khải của Thiên Chúa là do "ân sủng", tức là phát xuất từ việc Thiên Chúa yêu thương nhân loại, và cũng vì cả mạc khải của Thiên Chúa còn là chính Tình Yêu của Ngài, một thực tại nói lên "tất cả chân lý" của mạc khải, mà "Thánh Linh", "Đấng An Ủi, là Thần Chân Lý" (Jn.15:26), mới nhập cuộc, xuất hiện bằng hình ảnh của "chim câu", biểu hiệu cho tâm tình "hiền lành" (Mt.11:29), liên quan đến "ân sủng", và cũng biểu hiệu cho đức tính "đơn thành" (Mt.10:16), liên quan đến "chân lý". Như thế, nếu nhân tính của Đức Kitô, "Người Con duy nhất đến từ Cha, đầy ân sủng và chân lý" này, như vừa nhận thức, là "đường lối" mạc khải của TC, thì "Thần Linh (hay) Thánh Linh lấy hình chim câu đậu xuống trên Người" đây chính là nguyên lý, là tác nhân mạc khải của Thiên Chúa. Do đó, "vinh hiển của Người Con duy nhất đến từ Cha, đầy ân sủng và chân lý" đây còn là "Thánh Linh" mà "Thiên Chúa xức dầu cho Người" (bài đọc 2), đồng thời cũng là "Thần Linh" mà Thiên Chúa "đã đặt trên Người" (bài đọc 1). Bởi đó, dưới tác động hay ảnh hưởng "quyền năng từ trên cao" (Lk.24:49) là "Thần Linh" hay "Thánh Linh" này, mà Đức Kitô, "Giêsu Nazarét... đi khắp nơi thực hiện những việc lành và chữa trị cho tất cả những ai bị ma qủi cầm buộc, và Thiên Chúa ở với Người" (bài đọc 2). Về việc Chúa Giêsu vô tội mà lại lãnh nhận phép rửa của Gioan Tiền Hô: tại sao Người chịu phép rửa hay Người chịu phép rửa để làm gì ? Để có thể trả lời một cách chính xác cho vấn đề tại sao Chúa Kitô vô tội mà còn lãnh nhận phép rửa của Gioan Tiền Hô, trước hết, về nguyên tắc, chúng ta cần phải lưu ý đến yếu tố cốt lõi là Chúa Kitô có hai bản tính, bản tính Thiên Chúa và bản tính nhân loại. Tuy nhiên, trong hai bản tính được ngôi hiệp nơi Đấng Thiên Sai này, bản tính Thiên Chúa là chính và bản tính nhân loại là phụ, bởi thế mới nói Người là Thiên Chúa Nhập Thể hơn là Con Người Thần Linh. Đó là lý do Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo số 466 mới xác tín: “Nhân tính của Đức Kitô không có một chủ thể nào khác ngoài ngôi vị thần linh Con Thiên Chúa, Đấng đã mặc lấy nhân tính ấy và biến nhân tính ấy thành nhân tính của mình”, và số 515 còn giải thích rõ hơn nữa như sau: “Nhân tính của Người như là 'một bí tích', tức như là một dấu hiệu và là một dụng cụ, của thần tính Người cũng như của ơn cứu độ Người mang đến, ở chỗ, những gì hữu hình nơi đời sống trần gian của Người đều dẫn đến mầu nhiệm vô hình của vai trò thiên tử và sứ vụ cứu chuộc của Người”. Số Giáo Lý 516 tóm lại thế này: “Toàn thể đời sống trần gian của Chúa Kitô - lời Người nói, việc Người làm, Người thinh lặng và Người khổ đau, cung cách Người sống động và nói năng thực sự - là Mạc Khải của Chúa Cha”. Đó là lý do tại sao khi nói về việc Chúa Giêsu chịu phép rữa của Tiền Hô Gioan, Giáo Lý số 536 đã cảm nhận một cách hết sức sâu xa và xác đáng như sau: “Việc Chúa Giêsu chịu phép rửa, về phần Người, đó là việc Người chấp nhận và mở màn cho sứ vụ của Người như là một Người Tôi Tớ khổ đau của Thiên Chúa. Người tự cho mình thuộc vào số các tội nhân; Người là 'Chiên của Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian' (Jn 1:29; x. Is 53:12). Người hướng vọng tới 'phép rửa' là cái chết đẫm máu của Người (x Mk 10:38; Lk 12:50). Người đến để 'làm trọn tất cả sự chính trực', tức là, Người bắt mình hoàn toàn thuận phục ý muốn của Chúa Cha, ở chỗ, vì yêu thương Người đồng ý chấp nhận phép rửa tử nạn để xóa bỏ tội lỗi của chúng ta (Mt 3:15, x. 26:39)… Chúa Giêsu sẽ là nguồn mạch Thần Linh đổ xuống cho tất cả nhân loại. Trong lúc Người lãnh nhận phép rửa, 'các tầng trời mở ra' (Mt 3:16) - các tầng trời bị tội lỗi Adong đóng lại - và các giòng nước được thánh hóa bởi việc Chúa Giêsu dìm mình xuống cũng như bởi Thần Linh, đó là một dạo khúc mở màn cho cuộc tân tạo”. Đối với tôi, việc Chúa Kitô lãnh nhận phép rửa không phải là vì nhân tính của Người có tội như bản tính hư hoại của loài người chúng ta, mà là để nhân tính ấy được tràn đầy Thần Linh. Cũng giống như việc Người ăn chay và chịu cám dỗ trong hoang địa 40 đêm ngày không phải là vì nhân tính của Người đầy đam mê nhục dục cần phải khổ chế và đền tội như loài người tội nhân chúng ta, mà là để nhân tính đầy Thần Linh của Người trở thành phương tiện cho Thiên Chúa sử dụng trong việc chế ngự sự dữ và cứu độ thế gian. Thật ra, nhân tính của Người đã được tràn đầy Thần Linh ngay từ giây phút nhập thể trong lòng Trinh Nữ Đầy Ơn Phúc Maria. Thế nhưng, vì Người cần phải thông ban mức độ tràn đầy Thần Linh của mình ra cho chung nhân loại cũng như cho riêng Giáo Hội của Người nữa, điển hình sau khi phục sinh từ trong kẻ chết, tức lúc nhân tính của Người hoàn toàn hiển linh, Người đã hiện ra với các tông đồ và thở hơi trên các vị để các vị “nhận lấy Thánh Linh” (Jn 20:22), mà Người cần phải tỏ mình ra Người thực sự là Đức Kitô, tức là một Đấng được xức dầu, một Đấng đầy Thần Linh, tức là một Đấng Thiên Sai. Và tác động thích hợp nhất và ý nghĩa nhất để tỏ mình đầy Thần Linh cho phần rỗi của loài người chính là việc Người lãnh nhận phép rửa của Gioan Tiền Hô tại sông Dược Đăng khi bắt đầu xuất thân cứu nhân độ thế. Lạy Cha chúng con ở trên trời, Cha đã sai "Người Con duy nhất đến từ Cha, đầy ân sủng và chân lý", để "Người mang công chính đến cho các dân tộc... làm giao ước của dân, làm ánh sáng cho các dân tộc..." (bài đọc 1) - xin Cha "chúc phúc cho (chúng con) trong cảnh thái bình" (đáp ca), thành phần "người mù... tù nhân... sống trong tăm tối" (bài đọc 1), đã được Người, qua Bí Tích Rửa Tội, "mở mắt (lương tri) cho... giải tỏa tình trạng (ma quỉ) cầm buộc cho... và đưa ra khỏi ngục (thế gian)" (bài đọc 1). Suy Niệm của Sr Margareta Maria Hiền Hoàng đế cầy ruộng, Hoàng đế chịu phép Rửa Mt 3: 13-17 Tại một thành phố bên Tiệp Khắc, giữa những di tích cổ người ta thấy có một chiếc cầy từ thế kỷ 18. Người ta truyền tụng câu truyện như sau : Một hôm Hoàng đế Josephh II cùng đoàn tùy tùng đến viếng thăm một ngôi làng trong vùng. Đi qua một cánh đồng, Hoàng đế thấy một nông dân đang ngồi nghỉ mệt bên một chiếc cầy. Ông đến trò chuyện với người nông dân và xin được cầy thử vài luống. Người nông dân rất đỗi ngạc nhiên vì có một người sang trọng lại xin tra tay vào cầy và ông phá lên cười khi thấy những luống cầy vụng về. Với tất cả thành thực, người nông dân lắc đầu và nói : "Xin lỗi ông, hạng người như ông thì làm sao có thể tra tay vào cày để kiếm sống được". Nghe thế, một người trong đoàn tùy tùng mới nói nhỏ cho người nông dân biết người đang cầm chiếc cầy của ông chính là Hoàng đế. Lập tức, người nông dân như muốn độn thổ, ông không thể tưởng tượng được một vị Hoàng đế lại có thể tra tay vào cầy của ông. Sự hạ cố của vị Hoàng đế làm cho người nông dân cảm động, thán phục đến nỗi kể từ đó ông không sử dụng đến chiếc cầy ấy nữa; ông lau chùi và đánh bóng nó, rồi cất giữ một cách trân trọng như một báu vật. Về sau chiếc cầy này được mang đến trưng bày tại một cuộc triển lãm ở Vienne, Áo quốc. Sự việc Chúa Giêsu chịu phép Rửa cũng thật khó hiểu và khó chấp nhận như mầu nhiệm Thập giá. Nên ông Gioan là người đã biết Chúa Giêsu Kitô là ai, ông liền can ngăn Người và nói : "Chính tôi mới cần được Ngài làm phép Rửa, thế mà Ngài lại đến với tôi". Ở đây, Chúa Giêsu muốn chịu phép Rửa của Gioan để nhìn nhận công việc này là do Thiên Chúa như là sự chuẩn bị cuối cùng đưa vào thời đại Messia, giai đoạn mà Chúa bước vào cuộc đời công khai ra đi rao giảng ơn cứu độ. Đức Kitô biết rằng có thi hành ý muốn của Thiên Chúa Cha trong việc này, thì Ngài mới lập nên được nền công chính mới, đất trời mới đã giao hòa. Chính Thần khí xức dầu cho Đức Giêsu, tấn phong Người làm Đấng Messia với Lời của Thiên Chúa Cha ban tặng: "Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người". Chúng ta thấy trong suốt cuộc đời của Người, Ngài đã tự coi mình như "Con Người đến để hầu hạ và hiến mạng sống mình làm giá chuộc muôn người". Ngài muốn tham dự vào cuộc sống của con người, muốn nói rằng Con Thiên Chúa đã thực sự đến trần gian và đã hạ mình xuống lãnh nhận Phép Rửa từ một người. Những thái độ khiêm hạ của vị Hoàng đế trần gian và Hoàng đế Nước Trời đã làm cho dân chúng cảm phục và ngưỡng mộ khi họ nhận ra đó là một người có uy quyền trong một nước và một Vua cao trọng hơn hết các vua ở trần gian này. Một cử chỉ cao đẹp của Chúa đã làm cho cửa Trời mở ra, ơn trời tuôn đổ, ơn cứu độ được trao ban và loan truyền. Lạy Chúa, chúng con là những người đã được lãnh nhận phép Rửa tội và từ ngày đó chúng con được tham dự vào hàng tư tế, bậc vương giả và ơn tiên tri. Xin giúp chúng con biết nhận ra những hồng ân cao cả đó để chúng con luôn vang lời ca cảm tạ và hăng say rao giảng Tin Mừng cứu độ và vui vẻ phục vụ Chúa trong hết mọi người qua các đặc ân trên. NS Dân Chúa Âu Châu CN I THƯỜNG NIÊN A Các bài đọc Chúa nhật thứ I quanh năm nhằm mục đích giới thiệu, loan truyền con người Chúa Kitô. Bài Cựu Ước trích sách Tiên tri Isaia. Tiên tri Isaia nhắc nhớ chúng ta Chúa Kitô là con người đầy hiền từ, nhân hậu. “Ngài không hề buốn phiền, không hề nao núng”. Chúa Kitô đã được Thiên Chúa Cha đặt làm “Ánh sáng muôn dân”, để người “mở mắt cho những người mù, giải phóng những người bị xiềng xích; đưa tự do lại cho những người bị áp bức.” Bài Thánh thư trích sách sách Tông đồ Công vụ, thuật lại những lời Thánh Phêrô loan truyền Chúa Giêsu cho công chúng : “Thiên Chúa đã dùng Thánh Thần và quyền năng mà xức dầu tấn phong Chúa Kitô. Chúa Kitô qua mọi nơi, ban bố ơn lành và chữa mọi người bị quỷ ám bởi vì Thiên Chúa ở với Người”. Bài Tin Mừng cho ta thấy Chúa Giêsu chẳng những là con người được các Tiên tri loan báo, Thánh Gioan chỉ cho dân chúng Ngài đang hiện diện giữa họ, đặc biệt Thiên Chúa Cha, có sự hiện diện của Chúa Thánh thần (dưới hình thứ chim bồ câu) tuyên bố: “Này là Con yêu dấu của Ta, Con đẹp lòng Ta”. Trong cuộc đời công khai của Chúa: Chúa đã tuyển chọn các Tông đồ làm cột trụ cho Giáo Hội. Ngài cũng giao sứ mạng cho các vị rao truyền Ngài cho muôn dân, để muôn dân lãnh nhận ơn cứu độ. Cũng vì thế, mà Thánh Luca đã ghi lại lời Chúa căn dặn các mân đệ, trước khi Chúa về Trời: “Các con phải là nhân chứng những sự việc này”. (Lc 24,48) Sứ mệnh của Giáo Hội luôn luôn phải là : loan truyền Đấng Cứu Độ muôn dân. Mỗi người tín hữu chúng ta (bằng cách này hay cách khác: bằng lời nói, bằng việc làm, nhất là bằng cách sống) có nhiệm vụ loan truyền và là chứng nhân của Chúa Kitô. Đặt biệt trong mọi thời đại, và ở khắp nơi, Chúa còn kén chọn một số vị dùng chính cái chết đầy đau khổ của các Ngài để rao truyền và minh chứng Chúa Giêsu là chính Thiên Chúa, đạo của Ngài là chân đạo, đưa lại ơn cứu độ cho loài người. Thánh Đaminh Cẩm (tử đạo ngày 11 tháng năm 1859) tuy đang lẩn trốn, vì sợ bị bắt, nhưng khi trách nhiệm mục vụ đòi hỏi (như giải tội, rửa tội, xức dầu…), Ngài vẫn can đảm ra đi thi hành nhiệm vụ, dù biết là công việc rất nguy hiểm chi tính mạng Ngài. Khi Ngài đã bị bắt, suốt mấy tháng liền, nhốt trong cũi chật hẹp Ngài vẫn can đảm hăng say rao giảng Tin Mừng, và khuyên những người tới thăm giữ vững đức tin, trông cậy vào Chúa. Đầu năm 1859, khi Cha về Hà Lạng ẩn náu, một người nhận diện Cha, liền đi tố cáo với quan. Ngày 21 tháng 1 năm 1859 Cha bị bắt giải về thị xã Hưng Yên. Trước mặt quan tuần phủ, Cha Đaminh Cẩm không chút sợ hãi, nhận mình là Linh mục Công giáo, và sẵn sàng chấp nhận mọi hình khổ, chớ không chịu chà đạp Thánh giá. Sau nhiều lần khuyến dụ và hăm dọa không kết quả, qua tuần ra lệnh nhốt Cha vào cũi chật hẹp, suốt mấy tháng liền. Trong thời gian bị giam, tư cách và đức độ của Cha Cẩm khiến lính canh phải cảm phục, nên họ dễ dãi cho phép nhiều giáo hữu tới lui tới thăm nuôi. Cha nhân cơ hội này, tiếp tục rai giảng Tin Mừng và khuyên mọi người trung thành giữ vững đức tin. Vì có Giáo hữu liên lạc, Cha đã nhiều lần viết thư gửi vị Giám mục địa phận, là Đức Cha Vinh, bầy tỏ lòng trung kiên với Đức Kitô và khao khát được phúc tử đạo. Đức Cha cho Linh mục Hương vào thăm và giải tội cho Cha ngày 30 tháng 1 năm 1859. Ngày 11 tháng 3 năm 1859, Cha Đaminh Cẩm rất vui mừng khi nhận được tin bị trảm quyết. Trên đường đến pháp trường, cạnh bờ sông Hồng, Cha hiên ngang như một chiến sĩ khải hoàn. Bà Maria Huệ, một Giáo dân có mặt trong giờ hành quyết, làm chứng : “Khi tới nơi xử, Cha quỳ gối cầu nguyện một lát, rồi vui vẻ ra hiệu cho lý hình làm việc phận sự. Lý hình vung gươm chém Cha ba nhát, mà đầu vẫn chưa đứt. Họ phải dùng gươm cứa lại nhiều lần, đầu Cha mới lìa khỏi thân.” Thi thể sau được rước về an táng ở Cẩm Giang là nguyên quán của Đấng tử đạo.
LỄ CHÚA GIÊSU CHỊU PHÉP RỬA CHÚA GIÊSU LÃNH NHẬN SỨ MẠNG 1. Mỗi người đều có sứ mạng Hai tiếng "sứ mạng" nghe có vẻ nghiêm trọng quá. Nhưng thực ra mọi người, mọi sinh vật, mọi thụ tạo - nói chung là mọi "hiện hữu” đều có một sứ mạng: - Sứ mạng của mặt trời là sưởi ấm các sinh vật trên mặt đất - Sứ mạng của cây lúa là nuôi sống con người - Thậm chí những con vi sinh nhỏ bé đến nỗi mắt thường không thấy được cũng có sứ mạng làm phân huỷ những chất thải. Chúa Giêsu đã sinh ra trong trần gian với sứ mạng làm Đấng Messia mang ơn cứu độ đến cho mọi người. Ngài đã chu toàn sứ mạng ấy một cách tuyệt hảo. Mỗi người chúng ta cũng có sứ mạng. Vậy mỗi người hãy tự hỏi "Sứ mạng của tôi là gì đối với gia đình, đối với xã hội, đối với GH, đối với anh chị em không cùng tín ngưỡng ?” Tôi được sinh ra trên đời là vì sứ mạng. Nếu tôi không chu toàn sứ mạng, hay tệ hơn nữa, nếu tôi không lưu tâm gì đến sứ mạng, thì sự hiện hữu của tôi là vô ích, chỉ là ăn hại. Chúa Giêsu đã nói "Nếu muối mà nhạt thì chỉ còn ném ra ngoài cho người ta chà đạp dưới chân". 2. "Con yêu dấu” Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa. Qua phép rửa, chúng ta cũng trở thành con Thiên Chúa. Về phần Chúa Giêsu, Ngài đã được khen là "Con yêu dấu của Cha". Thế nào là một người "con yêu dấu?” - Là biết ý của cha mình: Chúa Giêsu luôn cầu nguyện để biết ý của Chúa Cha. - Và luôn làm theo ý cha mình. Chúa Giêsu nói "Lương thực của Ta là làm theo ý của Cha Ta". Trong vườn Cây Dầu, sau khi đơn thành tỏ cho Chúa Cha biết Ngài rất sợ chén đắng của cuộc khổ nạn, Chúa Giêsu nói tiếp ngay "Nhưng xin đừng theo ý con, mà hãy theo ý Cha". Nếu chúng ta muốn trở thành con yêu dấu của Chúa thì chúng ta cũng hãy bắt chước Chúa Giêsu: luôn cầu nguyện, khi đã thấy được ý Chúa thì sẵn sàng bỏ ý riêng để làm theo ý Chúa. 3. "Nếu... " Nếu tôi là dân Do thái lúc đó, có thể tôi cũng đi từ Galilê bên Đức Giêsu suốt bốn năm ngày đường, tới sông Giođan để chịu phép rửa, mà không ngờ rằng Người là Đấng mà Gioan đang rao giảng. Khi tới nơi, chắc chắn tôi sẽ chen lấn Người để tôi được tới gần Gioan hơn. Tôi trố mắt nhìn và lắng tai. Gioan kêu gọi tôi sám hối. Tôi cảm động và rán lội tới sát Gioan. Tôi đẩy Người ra để ... xin Gioan rửa tôi trước, vì tôi nóng lòng mong đợi điều Gioan đang nói "Hãy dọn đường cho Đấng Cứu Thế đến". Rửa xong, tôi an tâm ra về mà không ngờ. Người là Đấng Cứu Thế đồng hành với tôi, đứng sát bên tôi, đã bị tôi gạt Người ra ngoài. Thực tế hàng ngày đã xảy ra trăm ngàn lần tôi cư xử như thế đối với những người bên cạnh tôi. Tôi không ngờ rằng họ là chi thể Đấng Cứu Thế. Tôi bao nhiêu lần xô lấn những người bên cạnh tôi để tôi được hơn, được trước họ mà chẳng nhớ gì lời Chúa dạy : "Con phải kính nhường và yêu mến người bên cạnh con". Thành thử ra tôi cũng không nhận ra Đấng Cứu Thế đang ở với tôi. Nếu tôi được làm địa vị của Gioan tiền hô, thì khi vừa thấy Đấng Cứu Thế, tôi sẽ tự đắc hô to : Đấy, tôi nói có sai đâu. Ngài đến đây nè... Rồi tôi kêu gọi mọi người ủng hộ Ngài, hoan hô Ngài, đón rước Ngài, xin Ngài phất cờ giải phóng dân tộc, làm cho nước ta độc lập tự do giàu mạnh, đem quân xâm chiếm các nước, trở thành bá chủ hoàn cầu. Tôi rất phàn nàn và lấy làm tiếc vì không thể ngờ được rằng Gioan không làm như tôi mong muốn. Trái lại ông đã cúi mình xuống nhỏ nhẹ thưa với Ngài rằng "Tôi không đáng cởi quai dép cho Ngài. Tôi chỉ rửa anh em trong nước, còn chính Ngài mới rửa chúng tôi trong Thánh Thần. Vậy xin Ngài rửa cho. tôi đi .để tôi được ơn cứu độ". Thật là con người đầy khiêm tốn, đầy tin tưởng, để rồi Gioan đã phó thác trót mạng sống mình cho Đấng Cứu Thế : dù phải chặt đầu, ông vẫn luôn quyết tâm chu toàn nghĩa vụ Thiên Chúa trao. Còn Đức Giêsu, Người rất từ tốn và ẩn mình tuyệt diệu hơn nữa. Người đã thưa lại Gioan : "Chúng ta cần phải chl toàn nghĩa vụ thánh như thế. Người đồng hóa mình vôi đần chúng, chịu những kẻ cậy sức mạnh xô đẩy, chèn ép để thông cảm với mọi nỗi xót xa của cuộc đời những kẻ thấp mũi bé miệng, neo đơn, cô thế cô thân. Người đã cúi mình trước Gioan làm phép rửa cho Người để cho những tội nhân biết cúi mình xuống trước tòa giải tội. Người đã dìm mình xuống nước để cứu vớt những kẻ chết trong dòng đời, cho họ được sống lại làm con chí ái với Người trong gia đình thiên quốc. Người chôn mình trong bản tính hư nát của loài người để cho con người được trường sinh vinh phúc. Lạy Chúa Giêsu xin cho chúng con biết kính nhường nhau. Đó chẳng phải là kính mến Chúa sao ? Xin cho chúng con biết phó thác thân phận làm người, làm Kitô hữu cho Đấng Cứu Thế. Chắc chắn chúng con sẽ được Người thanh tẩy và kết nạp chúng con vào nhà Cha chí ái trên trời. 4. Mảnh suy tư Thanh tẩy không chỉ là xối nước lên trán, chỉ một lần trong đời. Chúng ta được thanh tẩy bởi mọi chuyện xảy ra trong đời. Chúng ta được thanh tẩy bởi những gian truân thử thách, vì dòng nước xoáy này rửa sạch chúng ta khỏi giả dối và vô dụng. Chúng ta được thanh tẩy bởi những đau khổ, vì dòng nước âm u này giúp chúng ta khiêm tốn và biết cảm thông. Chúng ta được thanh tẩy bởi niềm vui, vì dòng nước róc rách này cho ta cảm nghiệm sự tốt lành của cuộc sống. Chúng ta được thanh tẩy bởi tình yêu, vì nhờ dòng nước líu lo này chúng ta sẽ tươi nở như cánh hoa dưới ánh mặt trời. Bí tích Thanh Tẩy giống như trồng một cây non, nó sẽ tiếp tục lớn lên suốt trọn đời ta. (Flor Mccarthy) 5. Chuyện minh họa. Bà già 104 tuổi sống trong một căn hộ nhỏ tại Croydon. Khi bà được 100 tuổi, một nhà truyền giáo đến thăm và giải thích cho bà nghe đoạn Tin Mừng Gioan 3, 16: “Thiên Chúa yêu thương thế gian đến nổi đã ban Con Một Ngài để ai tin người Con đó thì khỏi chết và được sống đời đời". Bà đáp : “Thật là tuyệt vời Thiên Chúa thật tốt lành khi Ngài tha thứ cho tôi đã bỏ cả trăm năm không học biết Ngài ? Cuộc trở lại của bà được tạp chí Lon don City Mission thuật lại và kết thúc bằng câu: "Sinh 1825. Sinh tại 1925” LỄ CHÚA GIÊSU CHỊU PHÉP RỬA Mt 3, 13 - 17 Anh chị em thân mến ! Alexandre đại đế của Hy Lạp nổi tiếng không những về tài điều binh khiển tướng mà còn ngay cả trong việc chinh phục thú vật. Theo một giai thoại thì cha ông là vua Philip có mua một con ngựa tuyệt đẹp, nhưng lại là một con ngựa bất kham, cả triều thần không ai dám đến gần nó. Thế nhưng, một hôm được phép vua cha, Alexandrie bất thần ôm chầm lấy cổ con ngựa hướng mặt nó về phía mặt trời. Alexandrie thầm nghĩ rằng : sở dĩ con ngựa bất kham là vì lúc nào nó cũng chỉ cúi mình nhìn vào cái bóng của nó. Thế là như một phép lạ, sau một hồi hướng nhìn lên mặt trời, con ngựa bất kham bỗng trở nên thuần thục. Bỏ lại đàng sau bóng tối, hướng nhìn về mặt trời để trở nên thuần thục. Đây có lẽ cũng là một bài học mà Chúa Giêsu muốn nhắn gửi cho chúng ta hôm nay khi tưởng niệm việc Ngài chịu Phép Rửa lại sông Jordan. Thánh Matthêu đã nêu bật ý nghĩa của việc Chúa Giêsu chịu Phép Rửa khi ngài ghi lại chi tiết : "Các tầng trời mở ra và có tiếng Chúa Cha phán rằng : “Này là Con Ta yêu dấu, đẹp lòng Ta mọi đàng". Chúa Giêsu quả là một người con yêu dấu đẹp lòng Chúa Cha. Bởi vì Ngài đã khởi đầu sứ vụ công khai bằng cử chỉ vâng phục. Thật thế, ý nghĩa của việc Chúa Giêsu chịu Phép Rửa chính là sự vâng phục tuyệt đối của Ngài vào Thiên Chúa Cha. Qua việc dìm mình xuống sông Jordan, Chúa Giêsu loan báo cái chết mà Ngài sẽ phải trải qua. Ngài chấp nhận thân phận làm người, mang thân phận yếu đuối của con người. Điều đó có nghĩa là Ngài chấp nhận cái chết như một tất yếu của cuộc sống. Cái chết ấy đã được qui định trong chương trình cứu rỗi của Ngài, và Ngài đã thực thi chương trình cứu rỗi của Thiên Chúa Cha. Do đó, Chúa Giêsu không thể không đi vào cái chết ấy bằng việc vâng phục thánh ý của Thiên Chúa. Thật thế, qua cử chỉ dìm mình xuống sông Jordan, Chúa Giêsu đã nói lên hai tiếng "Xin Vâng" trọn vẹn vào chương trình của Thiên Chúa Cha. Điều này đã được thánh Phaolô diễn tả sự vâng phục của Chúa Giêsu bằng một công thức bất hủ : "Ngài đã vâng phục và vâng phục cho đến chết". Vậy, qua việc vâng phục cho đến chết ấy, Chúa Giêsu đã thể hiện trọn vẹn ơn gọi làm người của Ngài. Ngài đã làm người thật sự, sống đúng cương vị của một con người như bao con người khác ngoại trừ tội lỗi có nghĩa là Ngài đã vâng phục và vâng phục cho đến chết. Mặt khác, sau khi cho đánh đòn Chúa Giêsu, tổng trấn Phitatô đưa Ngài ra trước dân chúng và tuyên bố : "Này là Con Người". Một lời giới thiệu như thế gắn liền với một tấm thân đầy thương tích, hẳn phải nói lên rằng: một con người thực sự, một con người thể hiện trọn vẹn tính người, khi con người đó sống hoàn toàn cho tha nhân, khi con người đó chịu hao mòn và thương tích vì tha nhân. Thật ra, sự vâng phục cho đến chết của Chúa Giêsu không phải là một sự vâng phục mù quáng, nhưng sự vâng phục ấy có giá trị một cách tuyệt đối. Bởi vì sự vâng phục ấy được thực thi chỉ vì tình yêu thương, với một tình yêu vô cùng. Yêu thương và yêu thương cho đến cùng chính là thể hiện sự vâng phục trọn vẹn. Anh chị em thân mến ! Tưởng niệm biến cố Chúa Giêsu chịu Phép Rửa lại sông Jordan, chúng ta cũng được nhắc nhở về ý nghĩa của Phép Rửa mà chúng ta đã lãnh nhận. Hơn nữa, Chúa Giêsu đã mặc cho Phép Rửa của chúng ta cùng một ý nghĩa của chính Phép Rửa mà Ngài đã lãnh nhận lại sông Jordan. Vì thế, qua Phép Rửa chúng ta đi vào chính cái chết và sự vâng phục của Chúa Giêsu bằng chính sự sống của Ngài. Do đó, có thể nói được là chúng ta đã đi lại con đường vâng phục của Ngài. Qua Phép Rửa, chúng ta bỏ lại đàng sau bóng tối của tội lỗi, của ích kỷ, của hận thù, để ngước nhìn lên trời cao và vươn lên trong yêu thương phục vụ, trong quảng đại bằng chính sự quên mình vì Chúa, vì tha nhân. Trong "Hiến Chế Vui Mừng và Hy Vọng", Công đường Vatican II đã khẳng định rằng : "Chỉ trong mầu nhiệm của Ngôi Lời Nhập Thể, mầu nhiệm của con người mới được sáng tỏ". Thật thế, con người chỉ thấy được ơn gọi của mình trong Chúa Gìêsu Kitô mà thôi. Chỉ qua cuộc sống của Ngài, con người mới có thể biết phải sống như thế nào cho xứng với phẩm giá của con người. Chỉ khi nhìn vào Chúa Giêsu, con người mới có thể biết thế nào là sống cho ra người. Chúa Giêsu đã vâng phục Chúa Cha để sống yêu thương và yêu thương cho đến chết và chết một cách nhục nhã trên Thập giá. Qua một cuộc sống như thế, Chúa Giêsu muốn dạy cho chúng ta rằng : "Sống đích thực là sống yêu thương". Như vậy, không thể có một ơn gọi hay một cung cách làm người nào khác hơn trong việc tưởng niệm và tuyên xưng cái chết và sự Phục Sinh của Ngài. Và cũng chỉ vì yêu thương mà Chúa Giêsu luôn luôn ở lại trong Bí tích Thánh Thể để yêu thương mọi người cho đến cùng. Ước gì lối tuyên xưng của chúng ta không chỉ đóng khung và dừng lại trong khoảnh khắc của Thánh lễ, mà phải được thể hiện bằng cả cuộc sống yêu thương của chúng ta trong cuộc sống hằng ngày. Ước gì Phép Rửa không chỉ mang lại cho chúng ta danh hiệu Kitô hữu, mà phải được sống, được thể hiện bằng muôn ngàn cử chỉ yêu thương quên mình trong cuộc sống thường nhật của ngày sống chúng ta: "Chỉ có một Chúa, một đức tin, một Phép Rửa". Chính trong đức tin đó mà chúng ta đã chịu Phép Rửa và đó cũng là đức tin mà chúng ta hợp nhau để tuyên xưng qua kinh Tin Kính. Fr. Jude Siciliano, OP. LỄ CHÚA GIÊSU CHỊU PHÉP RỬA (Mt 3, 13-17) Thưa quý vị. Nói một cách tổng quát, ba Tin Mừng nhất lãm chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ tiên tri Isaia. Bài tường thuật Chúa Giêsu chịu phép rửa ở sông Giođanô của thánh Matthêo hôm nay là một thí dụ rõ ràng. Nhưng trước tiên chúng ta tập trung suy tư vào bài đọc thứ nhất. Bài đọc này có tên rất thơ mộng : “Bài ca của người tôi tớ trung tín”. Người tôi trung được Thiên Chúa chuẩn nhận và có một sứ mệnh đặc biệt : “Đây là người tôi trung Ta nâng đỡ, người Ta tuyển chọn và quý mến hết lòng. Thần khí của Ta ngự trên nó. Nó sẽ làm sáng tỏ Công lý trước muôn dân” (42,1). Đoạn văn này được vang vọng lại trong trình thuật của thánh Matthêo “Thần khí Thiên Chúa đáp xuống như chim bồ câu và ngự trên người và có tiếng lớn từ trời phán rằng : “Đây là con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người.” (Mt 3,13). Đây là lần thứ nhất chúng ta gặp người tôi tớ. Trong Isaia tất cả có bốn bài ca như thế này. Vậy người tôi trung đó là ai ? Một vài tác giả nói là một nhân vật nào đó rất đặc biệt. Người khác lại nói là toàn thể Israel xét như một dân tộc. Dù thế nào đi nữa, thì người tôi tớ đó sẽ làm tròn nhiệm vụ Thiên Chúa trao trong dân Do thái : “Trên ngươi Ta sẽ đổ thần khí của Ta xuống. Nó sẽ làm sáng tỏ Công lý trước muôn dân”. Từ quan trọng nhất, nổi bật nhất, an ủi nhất là từ “Công lý”. Ba lần trong bài đọc hôm nay nhắc đến từ này : “mang lại Công lý, thiết lập Công lý và làm sáng tỏ Công lý”. Đó chắc chắn là nhiệm vụ của người tôi trung Thiên Chúa. Như thế “Công lý” là từ vĩ đại, chủ chốt trong bài đọc hôm nay, và cũng là từ quan trọng bậc nhất trong toàn thể Kinh Thánh. Các tiên tri đều là phát ngôn viên của Thiên Chúa về Công lý. Họ có nhiệm vụ kêu gọi dân chúng hành động trong công lý, sống công lý. Họ là những nhân viên công lý Thiên Chúa sai đến trong dân. Bổn phận họ là rao giảng thánh ý Chúa trong lòng xã hội. Mọi người phải được đối xử ngang bằng nhau trong tình tương thân, tương ái. Đối tượng cần được công lý che chở hơn hết là những kẻ thấp cổ bé miệng trong xã hội, những kẻ không có đủ tiền trả luật sư hay quan tòa, những kẻ đứng góc phòng xử án để nghe “công lý giả hiệu” phán quyết trên mình, không có quyền lên tiếng tự bênh vực. Công lý là đặc tính trung tâm Thiên Chúa muốn trông thấy giữa xã hội loài người, đến nỗi, mọi lời cầu nguyện, mọi nghi lễ tôn giáo mà không có Công lý đều là ghê tởm trước mặt Thiên Chúa : “Lễ lạc của các ngươi Ta chán ghét khinh thường, hội hè của các ngươi Ta chẳng hề thích thú, các ngươi có dâng lễ toàn thiêu, Ta không nhận, bò béo tốt các ngươi Ta chẳng đoái hoài … Ta chỉ muốn lẽ phải như nước tuôn trào, công lý như dòng suối không bao giờ cạn (Am 5, 21-24). Mọi thành phần xã hội nhất là những kẻ thiếu thốn phải được hưởng những quyền lợi căn bản như cơm ăn, áo mặc, nhà ở, học hành… Hơn nữa các tiên tri còn khơi dạy lòng khao khát “ngày của Thiên Chúa”, khi mọi sự đều được làm mới, Công lý như ánh sáng chiếu vào thế giới đen tối vì bất công. Isaia đã đặt nhiệm vụ đó cho người tôi tớ trung tín khi ông viết : “Mở mắt cho người mù, mang ra khỏi ngục các tù nhân còn bị giam giữ, những ai ngồi trong bóng tối sẽ được xem thấy ánh sáng…” Trong ngày Chúa Giêsu xuất hiện tại bờ sông Giođanô, Ngài đã thấy Gioan làm phép rửa cho các tội nhân. Họ đến để xưng thú tội lỗi và nói lên nhu cầu cần Thiên Chúa giải phóng mình khỏi đủ thứ ngục tù. Tội là một thứ ngục tù ghê gớm nhất, một bệnh mù kinh niên, một kiếp nô lệ tinh thần và thể xác. Chúa Giêsu đã nhập bọn với những người này tự nhận mình là thành phần của họ. Dĩ nhiên Người không có tội và chẳng cần tẩy rửa. Có thể có khoảng cách giữa Ngài và những tội nhân khác, nhưng Người đã chọn liên kết với họ, cùng xuống nước với họ và tỏ mình là một tên nô lệ của đế quốc Roma, gánh chung số phận của dân tộc Ngài. Ngài đích thật là người tôi tớ Isaia nói tới 600 năm về trước. Chưa hết, khi Ngài tiến đến để chịu phép rửa bởi Gioan, ông này nhận ra ngay vị cứu tinh nhân loại, hoàn toàn trong trắng, vô tì tích. Đấng Thánh của Thiên Chúa, chẳng cần hối cải, thì ông đã từ chối thi hành lễ nghi tẩy rửa cho Ngài. Ngài phản đối : “Bây giờ cứ thế đã, vì chúng ta nên làm như vậy để giữ trọn đức công chính”. Giữ trọn đức công chính là sứ mệnh của Ngài kể từ ngày hôm nay. Và phép rửa của Gioan đã được Chúa Giêsu chuẩn nhận. Ông đích thật là tiền hô của Đấng thiết lập Công lý trước mặt muôn dân. Tuy nhiên, lễ nghi tẩy rửa chỉ là phần nhỏ của trình thuật Matthêo. Cái mà thánh sử muốn nhắm tới là sự hiển linh của Chúa Giêsu. Tiếng vọng từ Trời xác nhận Ngài là Con Thiên Chúa. Đấng thần khí ngự xuống để thi hành những sứ vụ nói trên. Tiếng đó phán ra không phải để Ngài nghe, mà chúng ta, toàn thể nhân loại từ tạo thiên lập địa cho đến tận thế. Ai nghe thì được cứu rỗi, ngoài ra bị trầm luân. Bởi lẽ nghe thì được nên người công chính và không nghe thì vẫn còn là tội nhân. Qua phép rửa của Chúa Giêsu bởi tay ông Gioan toàn thể nhân loại đã có thể sống công chính, bởi mỗi người cũng đã lãnh nhận phép rửa và cũng một thần khí đậu trên Chúa Giêsu đã đậu trên mỗi người, và cũng được Thiên Chúa chuẩn nhận là con rất yêu dấu của Ngài. Khi suy gẫm bài Tin Mừng Chúa nhật 4 Mùa Vọng vừa qua, thánh Giuse đã được thiên thần nói cho hay căn cước đích thực của con trẻ mà bạn ngài đang mang thai. Căn cước đó là thần linh ở với loài người “Emmanuel”. Câu hỏi là ở thế nào ? từ đàng xa ? Kính nhi viễn chi ? Đó là cung cách của Thiên Chúa Cựu Ước trên núi Sinai, hay của thần Jupiter Hy lạp trên núi Olympia, mỗi lần hiển hiện là có sấm sét, làm run sợ lòng người. Emmanuel của Đức Kitô khác hẳn, hiền lành và khiêm nhượng, nhưng không kém phần vĩ đại và thanh khiết – Vĩ đại trong sự khiêm nhượng, thanh khiết trong sự hiền lành. Ngài hoàn toàn mặc lấy thân phận loài người, ngoại trừ tội lỗi. Ngài bước xuống dòng sông Giođanô nhập bọn với những người tự nhận mình là tội nhân, cần lòng thương xót thứ tha của Thiên Chúa. Chắc hẳn, lúc ấy trong đền thờ Giêrusalem có ngàn vạn người đến cầu nguyện, dâng hương, những kẻ xứng đáng hơn để Người đến thăm viếng, nhưng không, Ngài đã lội xuống bùn với các tội nhân, tắm chung cùng dòng nước với họ. Ai có thể từ chối một Thiên Chúa như thế ? Ai có thể làm ngơ giáo lý của Ngài ? Thực sự, Ngài đã làm tròn giấc mơ của Isaia : “Đấng thiếp lập công lý” bằng lòng ăn năn thống hối, hoán cải cuộc sống. Phép rửa nói lên rằng Ngài không dùng bạo lực tàn nhẫn để ép buộc người ta phải ăn ngay ở lành như thiên hạ xưa nay thường quan niệm và đã từng sử dụng. Ngài chọn sống giữa chúng ta, di động giữa nhân loại để lôi kéo lòng họ về với Thiên Chúa. Ngài trà trộn với những người bị xã hội ruồng bỏ, những tội nhân, những người không thanh sạch, những cùi hủi, nghèo khổ, trả lại nhân phẩm cho họ bằng các cuộc chữa lành để nói lên rằng Thiên Chúa không phải ở xa tít mù khơi trên không trung mà ở trong trái tim mỗi người đúng như tiên tri Isaia đã loan báo : “Nó sẽ không kêu to, không nói lớn, không để ai nghe tiếng giữa phố phường. Cây lau bị giập nó không đành bẻ gãy, tim đèn leo lét nó cũng chẳng nỡ tắt đi.” Ngài bước xuống sông, dìm mình vào nước, nước tẩy rửa các tội nhân để tỏ rõ rằng Thiên Chúa đã bước những bước đi trước, công nhận họ là quan trọng trong chương trình của Ngài, trong công cuộc làm cho mọi sự nên công chính, hay nói như tiên tri Isaia “Làm sáng tỏ công lý.” Những người đến với Gioan cảm thấy tự mình, họ chẳng có khả năng làm điều đó. Cho nên họ cần Gioan. Nhưng Gioan chỉ là tiếng kêu, chỉ là kẻ chỉ đường, chính Chúa Giêsu mới là kẻ thi hành sự Công chính trên họ, nghe những khắc khoải của họ, và đổ thần khí mới vào linh hồn họ. Vậy thì thần khí đổ trên Ngài cũng là thần khí chúng ta lãnh nhận khi chịu phép Thánh Tẩy. Thần khí ấy không khi nào rời chúng ta nữa. Ngài có mặt vĩnh viễn trong cuộc đời mọi người để dẫn dắt và thánh hoá linh hồn chúng ta, trừ phi chúng ta cố tình phản bội, đuổi Ngài đi vì không muốn nghe lời Ngài. Nếu như hạnh phúc lớn nhất của linh hồn là được Thiên Chúa ở cùng, thì chẳng còn hạnh phúc nào lớn hơn hạnh phúc của người tín hữu. Kết thúcTin Mừng, thánh Matthêo kể lại, khi rời môn đệ về trời, Chúa Giêsu hứa sẽ ở với họ mọi ngày cho đến tận thế. Đây không phải là lời hứa suông hay lời nói dối, mà sự thật là như thế. Các môn đệ hoan hỉ trở về nhà tiệc ly, giữ lấy lời hứa ấy. Vậy thì nhà tiệc ly đó hôm nay là Giáo hội mà thánh lễ này là biểu chứng. Emmanuel của phép rửa chúng ta mừng hôm nay vẫn còn đầy ắp trong thánh đường này và trong mọi tâm hồn tôi trung của Chúa. Amen. Lm. Phêrô Trần Văn Trợ SJ (Úc Châu) Chúa Nhật Lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa Nhân ngày lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa, chúng ta hãy suy gẫm đến phép rửa tội của chính mình. “Ngày một người được nhận bí tích Thánh Tẩy là quan trọng hơn ngày người đó được truyền chức linh mục hay giám mục.” (Raymond E. Brown, thần học gia) Vì nó chính thức mở cửa đón chào mỗi người nhập đoàn vào gia đình của Chúa là Hội Thánh, biến thành một chi thể quí trọng trong nhiệm thể Chúa Kitô, được chia sẻ chức vị vua, tư tế và tiên tri của Ngài. Hình ảnh một người tỵ nạn được chính phủ của một nước thứ ba đón nhận minh họa phần nào ân sủng trọng đại này. Một khi hiểu được trọn vẹn ý nghĩa cao quí của nó, chắc chắn mỗi người tín hữu cũng có thể hết lòng hoan hỉ ca ngợi Chúa như lời Đức Mẹ : “Linh hồn tôi tung hô Chúa. . . Người đã đoái thương nhìn đến phận hèn tôi tớ. . .” Ấn tín của bí tích Thánh Tẩy là bảo chứng của ơn thánh đầu tiên và sẽ lưu lại mãi mãi trong ta nơi cuộc sống vĩnh hằng bên Chúa. Trong khi bí tích truyền chức thánh cho linh mục hay giám mục dù là có quí trọng trước mặt người đời, nhưng thực sự không thêm gì hơn cho tâm hồn đó trước mặt Chúa. Nó chỉ là việc chính thức ủy nhiệm của cộng đồng dân Chúa, để người đó biến thành một thừa tác viên chuyên lo mục vụ và giáo huấn, thuần túy giúp vào phương diện tổ chức xã hội giữa con cái Chúa ở trần gian mà thôi. Chúa Giêsu là Vua và Thượng Tế duy nhất và đời đời; Ngài vẫn sống và hoạt động, nên bất cứ ai tin nhận Ngài là con Thiên Chúa, qua bí tích Thánh Tẩy quyền năng Chúa Thánh Thần cho người ấy thông phần vào sức sống sung mãn cùng địa vị cao trọng của đức Kitô. Xin Chúa Kitô khai lòng mở trí cho chúng con hiểu được diễm phúc và địa vị cao sang Ngài đã tặng ban cho chúng con. Phúc âm qua thi ca Gioan theo luật rửa xong Chúa lên khỏi nước trên không phán rằng : Âm vang từ đấng toàn năng “Đẹp lòng ta lắm Cha hằng dấu yêu” (Trương Hoàng) Huế : LỄ CHÚA GIÊSU CHỊU PHÉP RỬA CHÚA GIÊSU CHỊU PHÉP RỬA (Lc 3,15-16.21-22) 1. Câu Lc 3,19 nói đến việc gioan tẩy giả bị tống giam tách biệt đoạn văn liên quan đến Gioan tẩy giả khỏi bản văn liên quan đến Chúa Giêsu và qua đó, nó phân biệt hai thời kỳ cứu độ, như nhận xét ở 16,16 sẽ cho thấy: “Cho đến thời Gioan, thì có lề luật và các tiên tri, từ đó trở đi Nước TC được loan báo...”. Và vì thế từ đó về sau con đường mô tả Chúa Giêsu không còn vướng nữa. Sự kiện hai tài tử chính cùng diễn suất chưa có thể hoàn toàn loại bỏ được, nhưng Lc đã cất khỏi sự kiện này tất cả ý nghĩa hiện thực của nó. Theo 3,21-22, Chúa Giêsu chịu phép rửa như một người dân, như bất cứ người Do thái nào khác. Lc loại bỏ tất cả gì có thể làm cho độc giả tưởng rằng Gioan tẩy giả đóng vai trò quan trọng trong biến cố này. Thực vậy, ông đã không nhắc đến tên của vị tiền hô trong lúc Chúa Giêsu chịu phép rửa. Điều này rất phù hợp với quan niệm của ông về ý nghĩa cuộc đời vị Tẩy giả. Vẫn theo Lc 16,16, thì Gioan tẩy giả chỉ là một tiên tri thuộc về thời kỳ cổ xưa. Điểm khởi đầu được đánh dấu bằng sứ vụ của Chúa Giêsu, chứ không phải như ở Mc, bởi sự xuất hiện của Gioan tẩy giả. 2. Vì thế Lc không nói ai đã làm phép rửa cho Chúa Giêsu. Ông chỉ nhắc đến việc Chúa Giêsu chịu phép rửa trong một mệnh đề phụ về thời gian, và đồng hóa phép rửa Chúa Giêsu như phép rửa các người khác (c.21) trong dân chúng. Dân chúng đã được thanh tẩy, sứ mạng của vị tiền hô đã chấm dứt. Vì thế Lc rất ý thức về sự liên đới của Chúa Giêsu với các tội nhân thống hối, nhưng ông không khai triển ý tưởng này. Ông chú tâm vào việc trao ban Thánh Linh, là trung tâm điểm của trình thuật. Đoản văn chúng ta đang nghiên cứu không mô tả phép rửa, nhưng mô tả cuộc thần hiện của phép rửa. (Trong phúc âm thứ tư, phép rửa sẽ không được nhắc tới nữa, Gioan không kể lại phép rửa, và thực sự mà nói, cũng không kể lại cuộc thần hiện của phép rửa, nhưng đã tường thuật rát rõ ràng chứng tá của vị Tẩy Giả tiếp liền sau cuộc thần hiện này). 3. Khi mô tả thần hiện, Lc ghi lại điểm khách quan hơn, có tính cách lịch sử hơn: “Xảy ra là.... thì trời mở ra và Thánh Thần xuống...” Khía cạnh “thị kiến” không còn nữa. Với mục đích ấy, tác giả phúc âm nhấn mạnh đến tính hiện thực bên ngoài của việc Thánh Thần ngự xuống: thay vì chỉ nói “Thánh Thần như chim câu”, ông nhấn mạnh: “Thánh Thần lấy hình dáng thể xác như chim câu”. Tuy vậy, ông vẫn giữ lại dấu chỉ của truyền thống: trời mở ra, Thánh Thần ngự xuống, lời TC phán. Nhưng sự can thiệp của TC đáp lại lời cầu nguyện của Chúa Giêsu thì chỉ có Lc ghi lại thôi. Đối với Lc, cuộc đời Đức Kitô (Lc 5,16; 6,12; 9,18-29; 11,1; 22,32.41.44) là một đời cầu nguyện, trong giây phút đặc biệt đó, lời cầu nguyện của Chúa Giêsu cũng không có gì lạ thường: phải chăng đó là việc chuẩn bị ám hợp nhất đồng thời cũng là lời đáp trả thông thường đối với mối tiếp xúc của TC ? (Trong truyền thống Khải huyền, có các kinh nghiệm chuẩn bị đón nhận sự mạc khải của TC: Đn 2,18; 9,3tt; 10,2-3; Lc 9,28-29; Cv 9,11; 10,30; 22,17). Nhưng chỉ ghi nhận lời cầu nguyện của Chúa Giêsu là một đề tài được Lc ưa thích nhất vẫn chưa đủ để giải thích sự có mặt của việc ấy trong biến cố này. Còn có một ý nghĩa sâu xa hơn: theo Lc, lời cầu nguyện của Kitô hữu cốt yếu hệ tại ở việc xin TC ban ơn Thánh Thần. Trong đoạn văn chỉ mình ông ghi lại nơi chương 11,1-13, Lc dạy chúng ta về sự cầu nguyện đích thực và hiệu quả của nó. Phần cuối của đoạn này cho chúng ta hiểu rõ hơn về mối quan tâm của ông về đề tài trên: “Vậy nếu các ngươi, tuy là ác, còn biết lấy của tất lành làm quà cho con cái, phương chi Cha trên trời, Người sẽ ban Thánh Thần cho ai xin Người” (c.13). Ta cũng nên chú ý đến mối liên hệ giữa lời cầu nguyện của cộng đoàn với ơn Thánh Thần trong Cv 4,31: “trong khi họ cầu nguyện thì chỗ họ nhóm họp rung chuyển và hết thảy được đầy Thánh Thần”. Điều đó nhắc ta nhớ đến Chúa Thánh Thần hiện xuống trong ngày lễ Ngũ Tuần (Cv 2) tiếp theo sau lời cầu khẩn của nhóm tông đồ (Cv 1,13-14), những kẻ đã từng chuyên tâm cầu nguyện. Chính việc chiếm hữu Chúa Thánh Thần qua lời cầu nguyện làm cho các môn đệ của Chúa Giêsu khác biệt với môn đệ của Gioan (Apollos và Phaolô ở Êpheso, Cv 19,1-6). Dưới cái nhìn của Lc, thì việc thông ban ơn thiên sai và thần linh (Chúa Thánh Thần) khi Chúa Giêsu chịu phép rửa, mở đầu cho việc tuôn tràn phổ quát đã hứa ban cho thời đại cánh chung. Một cách tương tự như thế, ông sẽ mở đầu sách Cv bằng phép lạ Hiện xuống. 4. Trong tâm thức tôn giáo của cộng đoàn sơ khai, có một trào lưu đặc biệt, mà chỉ Lc ghi nhận, đã xem việc Chúa Thánh Thần hiện xuống trên Chúa Giêsu khi Ngài chịu phép rửa như là việc “xức dầu”, việc hiến thánh Ngài với tư cách “Đấng được xức dầu”. Đó là phương cách mới để diễn tả ý nghĩa phép rủa của Chúa Giêsu như một lễ phong chức của Đấng Thiên sai, họ dựa vào Is 61,1 . “Các ông biết điều đã xảy ra trong toàn cõi Giuđêa, khởi từ Galilêa, sau phép rửa Gioan rao giảng, TC đã xức dầu cho Chúa Giêsu , người Nazaret, bằng Thánh Thần và quyền năng như thế nào” (Cv 10,37-38). “Thánh Thần ngự trên tôi, bởi Người đã xức dầu thánh hiến tôi, đã sai tôi mang Tin mừng...” (Lc 4,18). Những bản văn như thế nói lên đà tiến của suy tư thần học. Thay vì coi việc xức dầu được thực hiện khi Chúa Giêsu Kitô phục sinh như một số văn bản cổ xưa đã làm (Cv 2,36; 4,27), người ta đã xem việc xức dầu đã được thực hiện khi Chúa Giêsu chịu phép rửa: việc xức dầu đó làm Chúa Giêsu thành Đấng “Messia”, “Đấng Kitô”, Đấng được xức dầu (l'Oint). Lời nói phát xuất từ trời giải thích rõ hơn điểm này. Đó là lời trích Tv 2, Tv Vương đế (psaume royal) được khoa chú giải Do thái coi như có tính cách thiên sai (psaume messianique). Câu thứ bảy của Thánh vịnh này đề ra một công thức được qui định để thu nhận người nào đó làm con mình: ngày TC giao phó cho vua, Đấng Messia, chức vụ đặt làm người đại diện của mình. Tc tuyên bố từ nay coi vua như con riêng của Ngài ("Con là Con Ta, hôm nay Cha sinh ra Con") việc đó nói lên lòng ưu ái của Ngài đối với vua, nói lên ảnh hưởng thế lực và sức phù trợ của Ngài trên ông. Khi áp dụng câu Tv này vào phép rửa của Chúa Giêsu, thì mầu sắc vương đế đã mờ nhạt đi; nhưng đây chính là một lễ phong vương (thánh hiến cho chức vụ quan trọng qua việc thừa uỷ của TC) và lễ phong tước cho thiên sai (theo ý nghĩa tổng quát: giao sứ mạng cứu rỗi). Câu Thánh vịnh này đặt ra một vấn đề văn bản khó khăn. Tiếng nói phát xuất từ trời được các bản sao ghi lại theo hai cách khác nhau: 1. “Con là Con chí ái Ta, kẻ Ta đã sủng mộ” 2. “Con là Con Ta, hôm nay Ta sinh ra con” (Tv 2,7). Các thủ sao khá nhất và hầu hết các thủ sao theo câu thứ nhất; nhưng câu thứ hai, được nhóm thủ sao và giáo phụ đông phương chứng nhận (Justin, Clément, Origène, Diognète, Hilaire, Const, Apost, Audustin) thì rất cổ xưa, có thể đã xuất hiện từ giữa thế kỷ II. Người ta đã thử cắt nghĩa: việc câu hai thay thế câu nhất, coi như nguyên văn hơn, là do ý của những người sao chép muốn hòa hợp bản văn Lc với Tv 2,7 (điều đó có thể đối với Justin, là người hay tìm cách hòa hợp với CƯ; biết đâu các thủ sao khác đã chép lại của ông ta). Ngược lại, việc câu nhất thay thế cho câu hai hình như là do một khuynh hướng hòa hợp mạnh hơn, hòa hợp bản văn Lc với Mc. Cả hai lập trường đều có người ủng hộ. Dù sao, có lẽ những người sao chép đã muốn hòa hợp Lc và Mc hơn là với CƯ. Do đó, chúng tôi chọn hai câu, nghịch với BJ, nhưng đồng ý với TOB, Revised Standard Version, New English Bible, Zurich Version ... Nếu câu hai là chính trực, điều đó có nghĩa là Lc đã bỏ không muốn ám chỉ đến người tôi tớ Giavê hay Người Con chí ái của Chúa Cha (tức là đến sứ vụ cứu chuộc). Ông tập trung chú ý vào lời sấm phong tước thiên sai và tử hệ thần linh. Ý tưởng tử hệ thần linh được nói qua vế thứ hai của câu thánh vịnh ("Hôm nay Cha sinh ra Con"). Cũng trong ý tưởng đó, sau lời tuyên bố của Tc đây, Lc sẽ đem ngay gia phả Chúa Giêsu vào, gia phả đưa Ngài lên thấu Adam “Con TC”. Trong Cv 13,33, Tv 2,7 được áp dụng vào việc phục sinh của Đức Kitô: “Và chúng tôi loan báo cho anh em Tin mừng: TC đã thực hiện lời hứa cho cha ông chúng ta bằng cách cho Chúa Giêsu Phục sinh, như lời Thánh vịnh 2: “Con là Con Ta, hôm nay Cha sinh ra Con”. Lời xác quyết này trước tiên là một tín điều; và sau này, người ta đã áp dụng câu đó không chỉ vào việc Phục sinh của Chúa Kitô, mà còn vào phép rửa của Ngài nữa. 5. Chúng ta đã thấy tước hiệu “Kitô” (được xức dầu) được đề cao khi nói về phép rửa, trước tiên đã áp dụng cho Chúa Giêsu ngày Ngài sống lại: “Tc đã đặt làm Kitô Chúa Giêsu mà các ông đã đóng đinh” (Cv 2,36; x.4,27). Sự chuyển dịch từ biến cố Phục sinh lui biến cố phép rửa Chúa Giêsu mà (cùng với sứ vụ của Vị Tiền hô) đã tạo nên “khởi đầu của Tin Mừng” (Mc 1,1; Lc 3,23; Cv 1,22; 10,37) cho ta chứng kiến việc khai sinh của một Kitô học tiên khởi. Thật vậy, vào những ngày đầu của Giáo hội, sự sống lại của Chúa Giêsu là khởi điểm quyết định cho đức tin vào thiên chức cao trọng và siêu việt của Ngài. Rồi rất sớm, người ta đã đào sâu cái trực giác phong phú đó. Dưới ánh sáng của Thánh linh nhắc lại trong lòng tín hữu những giáo huấn của Đấng cứu thế và những biến cố trong đời công khai của Ngài (đối tượng của Tin mừng), người ta suy thấy có những đặc quyền siêu việt hoạt động trong chính cuộc sống của Chúa Giêsu: không phải chỉ khi sống lại, nhưng suốt thời gian hoạt động và ngay lúc khởi đầu công trình cứu rỗi, khi chịu phép rửa, Ngài là Đấng Messia và Con Tc. Trong các phúc âm về thời thơ ấu, được soạn thảo về sau và ít “truyền thống” hơn những tước hiệu đó đã được dùng ngay giây phút đầu tiên của đời Chúa Giêsu (nhất là Lc). Như thế, ý nghĩa của việc TC can thiệp vào lúc Chúa Giêsu chịu phép rửa được xác định rõ hơn, và bài trình thuật biến cố đã mang một hình thức như chúng ta đang có đây, dưới ánh sáng Phục sinh. Vừa giảm bớt tính cách khải huyền trong cách trình bày, Lc, sử gia và tác giả phúc âm chuyên về cầu nguyện, đã mặc cho việc thần hiện trong phép rửa ý nghĩa chính yếu theo truyền thống sơ khai: là thánh hiến để bắt đầu sứ vụ, là phong tước thiên sai - Con TC cho Chúa Giêsu. Hình như ông không muốn nói lên mối liên quan với phép rửa của người Kitô hữu, nhưng ông đã nhấn mạnh hơn các phúc âm khác về thực tại tử hệ thần linh của Đức Kitô. KẾT LUẬN Ý nghĩa phép rửa của Chúa Giêsu được tỏ bày qua việc thần hiện xảy ra sau đó. Đấy là điểm chính yếu đã làm Lc chú ý; đây cũng là điểm chúng ta phải suy ngắm. Bước đầu tiên được đời hoạt động của Chúa Giêsu (nối kết Ngài với vị tiên tri cuối cùng và cao cả nhất được các tiên tri) trở thành việc thánh hiến biến Ngài nên đấng thiên sai một cách long trọng: được mặc lấy quyền năng của Chúa Thánh Thần, vững chắc được tình thân mật đặc biệt và trong tương giao độc nhất với Chúa Cha, từ đây Chúa Giêsu nhận lãnh sứ mạng thực hiện công trình cứu độ, phù hợp với ý định TC đã vạch ra trong Kinh thánh. Ngoài việc mạc khải công việc của Đấng thiên sai, câu chuyện này cũng hé mở cho thấy một mầu nhiệm sâu xa hơn, là mầu nhiệm của chính con người Chúa Giêsu, vị thiên sai - Con TC. Đó chinh là ý nghĩa căn bản được khám phá ra nôi biến cố này từ ban đầu, ý nghĩa đã được làm nổi bật qua cả một mạng lưới đầy hoài niệm Thánh kinh, trong phạm vi bối cảnh Khải huyền (trời mở ra, Thánh Thần xuống, tiếng phán từ trời: đó là khung cảnh am hợp nhất để tỏ cho biết đối tượng của mạc khải trên cao thôi: đối tượng đó là sứ mạng cứu rỗi của Chúa Giêsu, đặt nền tảng trên địa vị Con TC của Ngài). Được tường thuật vào lúc khai mào sứ vụ Đấng cứu thế, câu chuyện cho thấy là từ nay phải hiểu cả cuộc đời công khai của Chúa Giêsu dưới ánh sáng này (là ánh sáng đi trước vinh quang phục sinh). Và trong ngày đầu tiên ban Thánh Thần, trong ngày Con TC xuất hiện, thời đại cánh chung đã khai trương, thời nước trời hiển trị đã đến. Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG 1. Một ngày kia, Chúa Giêsu “sẽ thanh tẩy trong Thánh Thần và lửa” khi Ngài sai Thánh Thần xuống trên các tông đồ họp nhau trong nhà hội và qua họ sẽ đổ tràn Thánh Thần xuống trên mọi người. Nhưng trong lúc chờ đợi, Ngài khiêm tốn hạ mình nhận phép rửa của Gioan tẩy giả như một người Do thái tầm thường thời đó. Vinh quang của Ngài phải qua con đường tự hạ. Và chính lì Ngài, Con Một của Chúa Cha, đồng hóa với đám đông không tên tuổi như thế nên Chúa Cha đã làm chứng cho Ngài nơi sông Giodan bằng cách công bố Ngài là Con của Chúa Cha, Đấng Thiên sai được Chúa Cha xức dầu bằng Thánh Thần. Biến cố này được tiên báo mầu nhiệm vượt qua, như tất cả các mầu nhiệm khác của cuộc đời Chúa Giêsu. Vì thế đối với chúng ta, đây là một giáo huấn về chính bản chất cuộc đời Kitô hữu, vì Kitô hữu nào cũng phải sống mầu nhiệm vượt qua. Cuộc sống Kitô hữu nào cũng là tự hạ và vinh quang. Tự hạ bằng cách chấp nhận phục vụ người khác trong vui tươi và yêu mến, qua cuộc sống hàng ngày. Tự hạ trong cuộc sống tầm thường và buồn tẻ như Chúa Giêsu ở Nazaret. Tự hạ của ý riêng bằng cách biết nhìn nhận lãnh vực của TC trong cách cư xử của mình, tự hạ trong trường kỳ kháng chiến chống lại tính ích kỷ tự nhiên, khuynh hướng thống trị anh em mình, khát vọng bẩm sinh muốn tiện nghi, lười biếng, xa hoa, khoe khoang. Với Chúa Giêsu chịu phép rửa, chúng ta phải chấp nhận địa vị tầm thường của chúng ta trong một đám đông tầm thường và biến cuộc sống tầm thường đó trở thành đời sống khiêm hạ theo Chúa Giêsu. Nhưng sự tự hạ đó chỉ kéo dài một thời gian thôi, vì một ngày kia, nếu chúng ta sống cuộc sống tầm thường như con cái Cha trên trời, thì Ngài sẽ nói với chúng ta: Con là Con Ta, hôm nay Cha sinh ra con và sẽ dẫn đưa chúng ta vào trong cuộc sống vinh quang thân tình vĩnh cửu. Và ngay từ bây giờ, nếu chúng ta cố gắng sống trung thành cuộc sống hàng ngày như con cái của Chúa Cha, thì Chúa Cha sẽ kéo chúng ta lại với Ngài và làm cho chúng ta vững tin cuộc sống tình yêu bằng những lời an ủi, bằng ánh sáng và ơn thánh đủ loại của Ngài. Ngay bây giờ cuộc sống theo gương Chúa Kitô làm cho chúng ta có thể nói với thánh Gioan: “Hãy coi lòng mến Chúa Cha ban xuống cho ta lớn lao dường nào để ta được gọi là con cái TC - vì thực sự chúng ta là thế (1Ga 3,1). 2. Khi Chúa Giêsu chịu phép rửa thì trời mở ra: giữa con người với TC, một tình thân mới có thể thành hình. Giữa Đức Kitô với TC, không có hàng rào ngăn cách. Điều mới lạ là Chúa Giêsu, tuy vẫn còn dính liền với thế gian, hòa lẫn trong đám tội nhân khi đến chịu phép rửa, lữ khách như họ trên đường về trời đang mở ra, chính Đức Kitô đó có thể trò truyện với TC, Cha Ngài mà không gì cản trở mối hiệp thông. Hàng rào mà tội lỗi dựng nên giữa TC và chúng ta bây giờ đã được vĩnh viễn xóa bỏ, vì có một người luôn luôn ở trước mặt TC. Các tầng trời xưa kia đóng lại vì tội lỗi, bây giờ lại mở ra để tuôn trào Thánh Thần xuống trên một con người biết đón nhận Thánh Thần không hạn chế. Và từ nay, qua con người Giêsu đó, mọi người đều có thể đến cùng Chúa Cha. 3. Chính trong lúc cầu nguyện mà Chúa Giêsu nhận được chứng từ của Chúa Cha và sự tỏ hiện của Chúa Thánh Thần. Đối với chúng ta cũng vậy, cầu nguyện là lúc thuận lợi nhất để gặp Chúa Cha và để lãnh nhận dồi dào hồng ân của chúa Thánh Thần . LỄ CHÚA GIÊ-SU CHỊU PHÉP RỬA Lu-ca 3,15-16 . 21-22 Trong lòng của Hội Thánh, từ xưa tới nay, các tín hữu vẫn cố gắng đi tìm câu trả lời cho vấn đề "Tại sao Chúa Giê-su lại đến với Gio-an để chịu phép rửa ?" Lễ rửa của Gio-an là để người ta ăn năn sám hối, và chúng ta tin rằng Chúa Giê-su là Đấng vô tội. Vậy tại sao Ngài tự động đến xin chịu lễ rửa này. Trong Hội Thánh đầu tiên, có người gợi ý đầy tình cảm rằng Ngài làm thế nào để đẹp lòng Mẹ Ngài, là người đã năn nỉ xin khuyên Ngài. Nhưng chúng ta cần một câu trả lời đúng đắn hơn. Trong cuộc đời mỗi người, có những giai đoạn như trục chốt cho cả đời sống xoay quanh. Trong đời sống Chúa Giê-su cũng vậy, thỉnh thoảng chúng ta phải ngừng lại để cố gắng nhìn xem cả cuộc đời Ngài khi còn tại thế. Trục chốt thứ nhất là cuộc thăm viếng Đền Thờ lúc Ngài mười hai tuổi, khi Ngài khám phá mối liên hệ độc nhất của Ngài với Thiên Chúa. Đến lúc Gio-an xuất hiện thì Ngài đã ba mươi tuổi. Như vậy, mười tám năm trôi qua, suốt thời gian đó, hẳn Chúa Giê-su đã suy nghĩ và nhận thức ngày càng rõ rệt về sự đặc biệt duy nhất của chính mình Ngài. Nhưng lúc đó Ngài vẫn còn là một người thợ mộc vô danh ở làng Na-da-rét. Hẳn Ngài biết có ngày Ngài phải rời bỏ Na-da-rét và ra đi cho một công tác lớn hơn, Hẳn Ngài vẫn trông chờ một dấu chỉ báo hiệu cho ngày đó xuất hiện. Bấy giờ Gio-an xuất hiện, dân chúng kéo đến nghe ông giảng và chịu phép rửa. Trong cả xứ nổi lên một cuộc phục hưng chưa từng có, một phong trào quay về với Thiên Chúa. Khi thấy điều đó, Chúa Giê-su biết giờ của Ngài đã điểm. Không phải Ngài cảm biết tội lỗi và ăn năn, Ngài biết rằng hiện giờ Ngài phải đồng hóa mình với phong trào quay về với Thiên Chúa này. Đối với Chúa Giê-su, sự xuất hiện của Gio-an là một tiếng kêu gọi của Thiên Chúa vào hành động, và hành động thứ nhất của Ngài là đồng hóa mình với dân chúng trong cuộc tìm kiếm Thiên Chúa. Nhưng trong lễ rửa của Chúa Giê-su có một sự kiện xảy ra. Trước khi Ngài có thể quyết định về bước quan trọng này, Ngài phải biết chắc mình làm việc phải lẽ ; và trong lúc Ngài chịu phép rửa, Thiên Chúa đã phán với Ngài. Xin đừng lầm sự việc xảy ra tại lễ rửa là một kinh nghiệm riêng tư cho Chúa Giê-su. Tiếng nói của Thiên Chúa đã đến với Ngài và tiếng đó xác định rằng Ngài đã có một quyết định đúng. Nhưng hơn thế nữa, chính tiếng đó chỉ cho Ngài thấy tất cả con đường của Ngài. Thiên Chúa đã phán với Chúa Giê-su : "Đây là Con yêu dấu của Ta." Câu này gồm hai phần "Con là Con yêu quý của Cha" là câu trích từ Thánh vịnh 2,17 được coi là lời diễn tả về Đấng Cứu Thế hứa ban. Còn câu "Ta hài lòng về con" là một phần của I-sai-a 42,1, diễn tả người Đầy tớ Đau khổ của Chúa Gia-vê có hình ảnh trọn vẹn trong I-sai-a 53. Cho nên trong lễ rửa của Chúa Giê-su có rất nhiều ý nghĩa : có ý nghĩa về Nước Trời đã đến vì lúc đó là lúc Chúa Giê-su bắt đầu rao giảng Nước trời. Cũng có nghĩa là lúc Đức Giê-su được xức dầu tấn phong bằng Thánh Thần để thi hành một sứ mạng trọng đại. Cũng có nghĩa là Ngài đồng hóa với loài người tội lỗi, dầu "vốn không biết tội lỗi nhưng trở nên tội lỗi vì cớ chúng ta" và hạ mình nhận lấy phép rửa của Gio-an. Tiếng từ trời "Con là con yêu quý của Cha, Cha hài lòng về con" là tiếng nói của ân phúc. Đó là tiếng nói thừa nhận. Còn ân phúc nào lớn hơn là được Thiên Chúa thừa nhận. A-ben dâng lễ tế được Thiên Chúa thừa nhận, đó là ân phúc đối với A-ben. Ngược lại, sự từ khước tế lễ của Ca-in là một lời nguyền rủa. Còn ân phúc nào lớn hơn là khi được Thánh Thần đáp đậu và nận lấy quyền phép từ trên cao. Chúa Giê-su đã đến với ông Gio-an để lãnh nhận phép rửa, nhưng chính ông Gio-an đã khẳng định ông chỉ làm phép rửa bằng nước, còn Chúa Giê-su mới là Đấng làm phép rửa bằng Thánh Thần. Chúa Giê-su đã khai mở bí tích Thánh Tẩy cho những kẻ theo Ngài bằng việc đích thân Ngài xin lãnh phép rửa từ Gio-an. Chúa Giê-su muốn chúng ta có sự tiếp nối giữa Giao ước cũ và Giao ước mới, tiếp nối giữa lời rao giảng của vị ngôn sứ cuối cùng-cao đẹp hơn tất cả các vị trước-với lời rao giảng của chính Ngài để thiết lập Nước Thiên Chúa. Tuy nhiên, lễ rửa này Ngài đã biến đổi để có thể thực sự khai mào cho bí tích Thánh Tẩy. Như thánh Lu-ca kể lại cho chúng ta. Ngài kéo dài nghi thức bằng lời cầu nguyện. Lời cầu nguyện này mang lại hiệu quả là trời mở ra. Khi Chúa Giê-su chịu phép rửa trời mở ra như sau này trời cũng mở ra mỗi khi bí tích Thánh Tẩy được cử hành, vì bí tích Thánh Tẩy không những chứng tỏ việc được tẩy sạch tội lỗi mà còn cho thấy ơn phúc dư đầy trời tuôn đổ xuống cho. Hơn thế nữa, qua việc cầu nguyện, Chúa Thánh Thần đến với Chúa Giê-su. Chính Thánh Linh này cũng hướng dẫn Chúa Giê-su trong tất cả các hoạt động của Ngài, trong tất cả các công việc giáo huấn và chữa lành bệnh tật … tượng trưng cho ơn cứu độ từ nay được ban cho nhân loại hầu giải thoát khỏi mọi nỗi khổ đau. Việc đến của Chúa Thánh Thần tiên báo ơn Chúa Thánh Thần sẽ được ban xuống cho mỗi thụ nhân để nâng lên hàng nghĩa tử của Thiên Chúa. Chúa Thánh Thần ngự xuống trên Chúa Giê-su trong hình dạng chim bồ câu. Hình ảnh này thật có ý nghĩa khi chúng ta nhớ lại trong Cựu ước, trong đại nạn Hồng Thủy, chim câu được thả ra đã trở về mỏ ngậm lá ô-liu xanh tươi báo hiệu nạn lụt đã chấm dứt (St 8,11). Đến trong hình dạng chim bồ câu là đến mang lại bảo đảm sự hòa giải giữa Thiên Chúa và loài người. Đến như vậy là dấu chỉ lòng nhân từ của ơn cứu độ Thiên Chúa ban. Trong bí tích Thánh Tẩy, lòng nhân từ ấy được thực hiện, Chúa Thánh Thần ngự xuống trong thụ nhân, bằng tác động tế nhị của tình yêu, chiếm hữu toàn diện con người hầu thúc đẩy sự phát triển toàn diện. Chúa Thánh Thần trọng dụng tất cả mọi khát vọng và khuynh hướng chính đáng của mỗi người và với mục đích duy nhất là thúc đẩy mọi điều lành điều tốt hầu đưa đến toàn vẹn. Chúa Thánh Thần đã đánh tan mọi lo âu sợ hãi đè bẹp hoặc khép kín tâm hồn không cho phát triển. Hình ảnh của chim câu đặc biệt được lựa chọn để tránh bỏ mọi phản ứng lo âu sợ sệt này. Điều kết thúc sự hoàn thành trong lễ rửa của Chúa Giê-su là tiếng phán từ Cha : "Con là con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về con" lời tuyên bố thần tính này mang lại quan trọng chủ yếu cho Chúa Giê-su, mặc khải cho loài người chúng ta về thân vị Chúa Giê-su, mặc khải ấy đòi hỏi chúng ta phải đặt niểm tin nơi Ngài. Theo như Phúc Âm kể lại thì lời công bố này chỉ liên quan đến Chúa Giê-su. Tuy nhiên lời công bố ấy vẫn được coi như nguồn gốc của ơn nghĩa tử do bí tích Thánh tẩy đem lại cho mọi tín hữu. Đức Ki-tô chỉ được mạc khải là con của Chúa Cha với ý hướng thông ban ơn nghĩa tử ấy cho tất cả mọi người đã liên kết với Ngài bởi niềm tin. Bí tích Thánh Tẩy đặc biệt thực hiện ý định này. Những lời "Con là con yêu dấu của Cha" luôn được vang lên khi có phép Rửa tội, dầu huyền âm này có được nghe không. Do phép rửa của mình Đức Giê-su biết rằng mình đã ban cho mọi tín hữu ơn làm con yêu quý của Cha trên trời. Đối với Chúa Giê-su, và đối với chúng ta ngày nay, phép rửa là một kinh nghiệm về ân phúc, mà ân phúc liên hệ đến trách nhiệm. Sau khi nhận ân phúc từ Thiên Chúa, Chúa Giê-su tiếp tục con đường vâng phục đẻ làm đẹp lòng Thiên Chúa. Chúa phải liên tục tranh chiến với cám dỗ đi ngược lại ý muốn của Thiên Chúa. Đám đông muốn tôn Chúa làm vua, Ngài cự tuyệt. Các môn đệ can ngăn Chúa đi đường thập tự, Ngài khiển trách. Với trách nhiệm được giao cho, Chúa can đảm uống chén đau thương mặc dầu không tránh khỏi trận chiến nội tâm giữa sự vâng phục và khước từ. Nhận lấy ân phúc từ trời là lúc Ngài cam kết vâng phục Thiên Chúa, và thật sự, Ngài đã vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên cây thập giá. Là môn đệ của Chúa Giê-su, chúng ta phải xem Ngài như một mẫu mực. Phép Rửa chúng ta nhận lãnh là dấu hiệu cho thấy qua Chúa Giê-su, chúng ta được Thiên Chúa thừa nhận. Đó là ơn phúc, nhưng không phải để chúng ta an nhiên ngồi hưởng nhưng đi kèm với trách nhiệm. Nói cách khác, phép Thánh Tẩy hay phép Rửa cũng là sự cam kết vâng phục ý muốn của Thiên Chúa và nhận lấy trách nhiệm Ngài trao. Bạn hãy tự vấn lương tâm xem phép Rửa đã ảnh hưởng đến đời sống bạn như thế nào trong hiện tại. |