Chúa Nhật XXV thường niên - Năm A
GIỜ THỨ MƯỜI MỘT
Linh mục Laurenso M. Thiên Ngọc CRM

“Chúa hảo tâm với hết mọi người và từ bi với mọi công cuộc của Chúa. Chúa công minh trong mọi đường lối và thánh thiện trong mọi việc Chúa làm” (Tv 144,9.17)

Các bạn thân mến,

Phụng vụ Lời Chúa trong Chúa Nhật 25A thường niên kể lại một dụ ngôn lạ lùng của Thầy Giêsu. Ngài sánh ví Nước Trời giống như chuyện chủ nhà kia sáng sớm ra thuê người làm vườn nho mình. Khi đã thỏa thuận với những người làm thuê về tiền công nhật là một đồng, ông sai họ đến làm vườn của ông. Rồi cứ thế ông lại ra thuê thêm nhiều lần khác nữa vào giờ thứ ba (9g), giờ thứ sáu (12g), giờ thứ chín (15g). Và cuối cùng, dù ngày đã gần hết, chỉ còn một giờ làm, ông cũng ra tìm người làm vườn nho cho ông vào giờ thứ mười một (17g). Rồi khi trả lương, ông đã trả từ người sau hết đến người trước hết. Ai nấy cũng đều nhận được một đồng như nhau. Điều này làm cho những người đến làm trước cảm thấy khó chịu và không khỏi trách móc chủ vườn bất công, thiên vị (x.Mt 20,1-16).

Đặt mình vào hoàn cảnh của những người làm trước, có lẽ chúng ta thường cũng có một tâm trạng tương tự như họ. Không hiểu tại sao ông chủ lại trả lương như nhau như thế? Họ không hiểu nổi ý định của ông ! Điều này, bài đọc một trích sách tiên tri Isaia (55,6-9), Chúa cũng nói với dân chúng rằng: “Tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng các ngươi, đường lối của Ta không phải là đường lối của các ngươi. Như trời cao hơn đất thế nào thì đường lối Ta vượt trên đường lối các ngươi và tư tưởng Ta cũng vượt trên tư tưởng các ngươi thế ấy”.

Chúng ta hãy xin ơn được hiểu biết những tâm ý của Chúa trong dụ ngôn này.

Trước hết, xét theo khía cạnh lúc bấy giờ, hành xử của ông chủ có thể là một lời khuyến cáo đối với người Do Thái. Họ là một dân tộc được Thiên Chúa tuyển chọn giữa muôn dân tộc. Thiên Chúa đã ký kết giao ước với họ qua Moisen trên núi Sinai, sẽ bang trợ họ nếu họ tuân giữ thánh chỉ huấn lệnh của Ngài. Họ hãnh diện tự hào về sự chọn lựa đó. Vì thế, họ đề cao mình, và dần dà coi thường, thậm chí khinh bỉ những người ngoại bang. Vào thời Tân Ước, vì họ đã từ chối tin vào Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế được hứa ban cho họ, nên các tông đồ đã quay sang loan báo tin mừng Chúa Giêsu Kitô cho các dân ngoại. Những Kitô hữu chúng ta chính là dân ngoại đó, có thể biết Chúa cách muộn hơn, thậm chí vào giờ thứ mười một, nhưng Thiên Chúa cũng ban thưởng Nước Trời, giống như Ngài cũng không muốn loại trừ những người Do Thái ra khỏi Nước Trời. Điều này dạy chúng ta phải rất khiêm tốn biết ơn Thiên Chúa nơi Đức Giêsu Kitô, vì hạnh phúc Chúa ban được biết Chúa và được gọi vào làm vườn nho cho Ngài.

Nhưng sau nữa, dụ ngôn trên còn tỏ cho chúng ta thấy một điều lớn lao hơn, đó là lòng từ bi thương xót của  Chúa. Tuy những người vào làm cuối hết chỉ làm được một giờ, nhưng Chúa vẫn ban thưởng cho họ một đồng, không bớt xén hay cắt giảm tiền công. Xét theo lẽ công bằng, ai làm ít giờ sẽ được ít lương. Nhưng người chủ biết rằng với số tiền công cỏn con nhận được theo công bằng ấy, thì những người làm công ấy trở về nhà với số tiền ít ỏi đó sẽ rất buồn tủi xót xa, vì vợ con anh sẽ lo lắng và gia đình anh có thể sẽ bị đói khát. Vì vậy, ông chủ thương xót và trả cho họ nhiều hơn số tiền họ đáng hưởng. Đức Hồng Y FX. Nguyễn Văn Thuận đã dí dỏm gọi đây là khuyết điểm của Chúa, vì Ngài không biết làm ăn kinh tế, chỉ tổ sạt nghiệp thôi, khi trả công kẻ làm ít người làm nhiều như nhau.

Đó chẳng phải là ơn ban nhưng không của chủ cho người làm giờ thứ mười một hay sao? Chúa vẫn hành xử với chúng ta như vậy, bằng những ơn ban nhưng không, dù chúng ta không xứng đáng với quà tặng đó. Chúa ban cho chúng ta là bởi lòng thương xót của Ngài. Và như thế, khi chúng ta phục vụ Chúa thì những gì Chúa ân ban không phải là để trả công nhưng chính là quà tặng, là ân sủng. Việc giữ đạo, dự lễ, đọc kinh, cầu nguyện, hy sinh, làm việc lành, phụng sự Chúa trong bậc sống,… không phải để được Chúa trả công, mà là để đền đáp tình thương của Chúa trong muôn một. Điều này đưa chúng ta đến ý nghĩa cao quý nhất của dụ ngôn, đó là tinh thần làm việc, là thái độ sống của mỗi người chúng ta. Nghĩ đến lời của thánh Phaolô tông đồ trong thư gửi tín hữu Philipphê: “Dù tôi sống dù tôi chết, Đức Kitô phải được vẻ vang trong thân xác tôi, vì đối với tôi sống là Đức Kitô, còn chết là một mối lợi. Nhưng nếu sống trong xác thịt này đem lại cho tôi kết quả trong việc làm, thì tôi không biết phải chọn đàng nào. Tôi đang lúng túng trong hai điều này là ước ao chết để được ở với Đức Kitô thì tốt hơn bội phần, nhưng cứ ở lại trong xác thịt thì cần thiết cho anh em. Anh em hãy sống xứng đáng với tin mừng của Đức Kitô” (Pl 1,20-27).

Những người làm công trước đã thỏa thuận với chủ công nhật một đồng. Họ chỉ lưu tâm làm việc để kiếm tiền. Tuy nhiên, những người đến sau không hề có thỏa thuận. Điều họ muốn là được làm việc, họ sẵn sàng để cho chủ định đoạt tiền công. Một người làm việc chỉ nghĩ đến phần thưởng hay tiền công, thì chưa phải là môn đệ đích thực của Chúa Giêsu. Họ vì phần thưởng chứ không vì Ngài! Người Kitô hữu lao công phục vụ vì niềm vui được Chúa kêu mời, cho vinh danh Chúa và mưu ích cho tha nhân Khi phục vụ như thế, nghĩa là khiêm tốn vì mình bất xứng và không đáng thưởng công cùng với cảm nghiệm lòng Chúa thương xót mình, thì họ sẽ làm việc với tất cả lòng nhiệt thành, với sự biết ơn, với lòng khiêm tốn, vô vị lợi, và làm hết sức cho Chủ vườn nho nhân hậu là Thiên Chúa. Người phục vụ như thế sẽ đẹp lòng Chúa. Chúa Kitô cũng dạy chúng ta khi làm xong việc thì hãy xưng mình là đầy tớ vô dụng, chỉ biết làm việc phải làm. Ai có tinh thần như thế sẽ được cho thêm, còn kẻ không có thì cái họ có cũng sẽ bị lấy mất: “Người sau hết sẽ nên trước hết, và kẻ trước hết sẽ nên sau hết” (Mt 20,16).

Các bạn quý mến,

Cuộc đời của mỗi chúng ta phải là một cuộc đời sống cho cho Thiên Chúa và tha nhân. Sống cho Chúa không phải vì phần thưởng vì công lênh, nhưng chỉ vì cảm nhận lòng Chúa yêu thương vô bờ bến mà chúng ta dấn thân đáp trả cho tình yêu siêu linh ấy. Xin cho mỗi người chúng ta biết dùng tình yêu để đáp trả tình yêu, biết hiến dâng mạng sống để đáp đền mạng sống. Để cuối cùng, chúng ta được nghe lời ngọt ngào êm ái của Thiên Chúa: “Ta là phần rỗi của dân Ta, họ đã kêu cầu Ta trong mọi nỗi gian truân, Ta đã nhận lời họ và Ta sẽ là Chúa của họ đến muôn đời” (Ca nhập lễ CN 25).