Chúa Nhật V thường niên - Năm A
NGƯỜI NGHÈO CỦA THIÊN CHÚA
Linh mục Thiên Ngọc CRM

“Phúc thay ai có tinh thần nghèo khó, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5,3)

Các bạn thân mến,

“Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người nay, nhất là của những người nghèo và những ai đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Kitô, và không có gì thực sự là của con người mà lại không gieo âm hưởng trong lòng các tín hữu” (GS 1).

Đó là những lời mở đầu Hiến Chế “Hội Thánh Trong Thế Giới Ngày Nay” của Công Đồng Vaticanô II. Những lời đó rõ ràng xác định mối liên quan mật thiết giữa Hội Thánh với toàn thể gia đình nhân loại, và cách đặc biệt hơn với người nghèo.

Cớ sao Hội Thánh lại quan tâm đặc biệt đến những người nghèo cũng như ưu tiên đứng về phía người nghèo? Câu trả lời như sau: “Sự yêu thương của Hội Thánh đối với những người nghèo là thành phần của truyền thống vững bền trong Hội Thánh. Tình thương này lấy cảm hứng từ các Phúc Thật của Tin Mừng, từ sự nghèo khó của Chúa Giêsu và từ sự Ngài luôn lưu tâm đến những người nghèo” (GL.HTCG, số 2444).

Thật vậy, ngay sau khi bắt đầu công khai rao giảng Tin Mừng, Chúa Giêsu đã trang trọng công bố một trật tự mới của hạnh phúc và ân sủng, của vẻ đẹp và bình an, qua các Mối Phúc Thật. Đứng đầu trong các mối Phúc đó là: “Phúc thay những ai có tinh thần nghèo khó, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5,3) ; hay “Phúc thay ai khó nghèo!” (Lc 6,20). Không hạnh phúc sao được nếu tất cả những người theo Chúa Kitô luôn có thái độ từ bỏ trong tinh thần đối với những của cải trần gian (dầu họ có hay không có), bởi vì nhờ đó, họ có được khả năng ao ước và nhận lãnh của cải đích thực! Vì thế, dứt bỏ lòng quyến luyến của cải thế trần chính là điều kiện để vào Nước Trời. Thánh Augustinô đã nói: “Kẻ kiêu căng thì tìm kiếm quyền thế nơi trần gian, còn người có tinh thần khó nghèo thì tìm kiếm Nước Thiên Chúa”.

Cũng chính để làm gương cho chúng ta về đức nghèo trọn hảo mà Ngôi Lời Thiên Chúa đã nhập thể làm người trong thân phận khó nghèo. Sinh ra trong máng cỏ Bêlem, lưu lạc bên Ai Cập, lam lũ ở Nazareth, đời tông đồ khó nhọc, cô đơn cùng cực trong vườn Dầu, tủi sầu cay đắng khi bị các môn đệ bỏ rơi, nhục nhã lúc bị đánh đập hành hạ trong hồi Thương Khó, chết trần trên Thánh giá, ẩn mình nơi Thánh Thể, bấy nhiêu hình thức khó nghèo đó, Chúa Giêsu “đã nhận lấy và thánh hiến đến độ hoàn toàn trần trụi” (Điển Ngữ Thần Học Thánh Kinh).

Bởi thế, Chúa Kitô đã luôn luôn lưu tâm đến những người nghèo. Khi tiếng tăm Ngài đã bắt đầu lan rộng và  được dân chúng không ngớt ca khen, Chúa Giêsu đã trở về  quê làng Nazareth, giảng dạy trong hội đường, và đã nói về sứ vụ của mình bằng việc áp dụng lời tiên tri Isaia : “Thần Khí Chúa ngự trên Tôi, vì Người đã xức dầu cho Tôi, Người đã sai Tôi đem Tin Mừng cho người nghèo khó, ban bố ân xá cho kẻ tù đày, cho người đui mù được thấy, cho kẻ bị áp bức được giải oan, loan báo năm hồng ân của Chúa” (Lc 4,17-19). Theo chân Đức Kitô, Hội Thánh “ đã cố gắng từ đời này sang đời khác và còn cố gắng hôm nay để cũng làm tròn sứ mạng đó của mình” (RM 37).

Chắc chắn rằng sự cùng cực của những người nghèo là một lý do để được Thiên Chúa yêu mến : “Người đã thấy nỗi lao đao tủi lụy, Người soi thấu để ra tay cứu độ. Nơi Người, kẻ phận đen có nơi gởi thác và đám mồ côi có người bầu chữa” (Tv 10,14). Tuy nhiên, điều đem vinh quang hơn cả cho Thiên Chúa và thúc đẩy Người trải dài lòng thương xót chính là thấy chúng ta có được tinh thần khó nghèo, hay có tâm hồn nghèo, nghĩa là “luôn ý thức về cảnh lầm than của cá nhân trên bình diện ân sủng, về nhu cầu cần Thiên Chúa trợ giúp. Thay vì phô trương sự đầy đủ hão huyền như người Pharisiêu tự tin vào sự công chính bản thân, họ thông phần lòng khiêm nhường của người thu thuế (x. Lc 18,9-14). Với tâm tình như thế trước cảnh túng quẫn và yếu đuối của mình, họ nên giống các trẻ nhỏ, và như trẻ nhỏ, họ được thừa hưởng gia nghiệp Nước Trời” (Điển Ngữ Thần Học Thánh Kinh).

Phần Đức Maria, không những Mẹ thấm nhuần tinh thần khó nghèo, mà Mẹ còn “chiếm chỗ nhất giữa những người khiêm hạ và khó nghèo của Thiên Chúa, là những người hy vọng và lãnh nhận ơn cứu độ từ Thiên Chúa với hết lòng tin tưởng” (LG 55). Vì thế, Chúa Ba Ngôi đã đoái nhìn đến Nữ Tỳ của Người. Mang phận nghèo hèn, Mẹ đã cảm nghiệm sâu sắc “tình thương ưu ái của Thiên Chúa đối với người nghèo, và ghi khắc lại cách tuyệt diệu trong bài Magnificat: Người hạ bệ những ai quyền thế và cất nhắc kẻ khiêm nhường. Người cho kẻ đói khát được no đầy và xua người giàu có trở về tay không. Người đánh tan kẻ kiêu căng và đổ tràn tình thương trên kẻ kính sợ Người” (RM 37). Được Thiên Chúa Cha tuyển chọn làm Mẹ của Con của Người khi nhập thể, làm Mẹ rất thánh thiện của Thiên Chúa và được tham dự và các mầu nhiệm của Chúa Kitô, Đức Maria càng chìm sâu trong sự biết ơn và lòng khiêm nhường. Với địa vị và sứ mạng ấy, Đức Maria được tôn vinh sau Chúa Con, vượt trên hết các thiên thần và loài người, do đó đáng được Giáo Hội tôn vinh và đặc biệt sùng kính (x. LG 66). Ở thế đứng này, “Đức Maria mang trong mình vinh quang của ơn thánh sủng hơn bất cứ ai khác, vinh quang mà Thiên Chúa Cha đã ban cho chúng ta trong Con chí ái,  và chính ân sủng này làm nên sự cao cả và vẻ xinh đẹp lạ lùng của toàn thể con người Mẹ” (RM 11).

Thánh Phaolô Tông đồ dạy : “Anh em hãy mặc lấy Đức Kitô”. Vậy chúng ta hãy mặc lấy tinh thần khó nghèo của Đấng Cứu Thế. Mang tinh thần ấy, chúng ta “phải làm việc theo luật chung, nhờ đó mưu cầu những gì cần thiết để sống và hoạt động, nhưng hãy loại bỏ mọi lo âu quá đáng và hãy cậy trông vào sự quan phòng của Cha trên Trời” (PC 13). Mặt khác, vì chúng ta luôn có người nghèo bên cạnh và “vì Chúa Giêsu đồng hóa mình với những ai nghèo đói tật nguyền, bị gạt ra ngoài lề xã hội (x. Mt 25, 31-46), nên chúng ta hãy dấn thân phục vụ cách thiết thực những người khốn khổ bần cùng. Họ là những trẻ em nghèo cần trợ giúp, những phụ nữ bị ngược đãi trong gia đình hay bị lạm dụng ngoài xã hội cần được tôn trọng nhân phẩm, những người cao tuổi bị bỏ rơi cần được chăm sóc và ủi an,  những đồng bào dân tộc thiểu số cần được đối xử công bằng và cần được giúp đỡ để thăng tiến trong mọi lĩnh vực, những người bỏ nông thôn ra thành thị bị bóc lột sức lao động cần được bênh vực và che chở, các nạn nhân của tệ nạn xã hội cần được thông cảm và giúp đỡ để trở về cuộc sống bình thường, những nạn nhân chiến tranh thiên tai cần có miếng cơm manh áo để vượt qua cơn thử thách, những thai nhi cần được tôn trọng và bảo vệ sự sống, những bệnh nhân cần được ủy lạo, ... Phục vụ họ như thế không phải chỉ là đòi hỏi tự nhiên của tình người, mà còn là món nợ của lòng bác ái Kitô giáo (x.Rm 13,8), vì mỗi lần làm như thế là chúng ta làm cho chính Chúa Giêsu vậy” (Thư Mục Vụ HĐGM Việt Nam, năm 2000).

Đức Maria biết rất rõ của cải tiện nghi trần gian chỉ là giả trá, và “ai yêu nó sẽ tới chỗ bán linh hồn mình” (Eccl 10,10). Vì thế, Mẹ đã đón nhận đức nghèo, như là tặng vật từ trời ban xuống qua Chúa Giêsu, và đã thể hiện tinh thần từ bỏ tất cả, để làm môn đệ đầu tiên tuyệt hảo nhất của Con Mẹ. Xin Mẹ dẫn dắt chúng con đi cùng Mẹ trên con đường hẹp này, để chiếm được Chúa Giêsu và Nước Trời làm gia nghiệp.