Chúa Nhật IV Mùa Chay - Năm A
CHÚA LÀ ÁNH SÁNG
                   Lm Micae Võ Thành Nhân

        Ngày xưa, những người Do Thái cho rằng bệnh tật, trong đó có bệnh mù lòa là do tội mà ra. Vì thế, các người có những chứng bệnh khác nhau đã đau đớn về thể xác mà còn khổ đau, dằn vặt trong tinh thần nữa.

       Đối với những người bị bệnh mù lòa, thế giới bên ngoài là một màu đen, là tối tăm. Họ chỉ biết thế giới chung quanh qua tiếng nói người khác, qua xúc giác. Đây là một mất mát rất lớn đối với những người bị bệnh mù.

       Những người mù không thể tự mình làm ăn sinh sống được. Họ sống nhờ  người khác. Cái nghề của những người mù thời nào cũng giống nhau đó là sống dựa vào tình thương, lòng trắc ẩn của mọi người xung quanh như là họ hay ăn xin ở các ngả ba đường, nơi có nhiều người qua lại, hay là chỗ công cộng.

       Hôm nay, khi đi ngang qua, Chúa thấy một người mù từ thuở mới sinh. Chúa trả lời một câu mà đã làm cho các môn đệ và những người Do Thái rất ngỡ ngàng. Thế nhưng, nó lại thể hiện tình thương của Chúa đối với những người đau bệnh: “Các môn đệ hỏi Chúa: Thưa Thầy, ai đã phạm tội, khiền người này sinh ra đã mù, anh ta hay cha mẹ anh ta? Chúa trả lời: Không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta đã phạm tội. Nhưng sở dĩ như thế là để thiên hạ nhìn thấy công trình của Thiên Chúa tỏ hiện nơi anh” (Ga 9, 2 – 3). Như thế, bệnh tật là cách để Chúa thể hiện tình yêu, lòng thương xót, quyền năng Thiên Chúa và rồi con người chúng ta tôn vinh, phụng thờ Chúa.

        Anh bị bệnh mù từ thuở mới sinh đây, anh mù về thể lý, nhưng tâm hồn anh không bị mù. Sau khi Chúa chữa anh được sáng mắt: “Chúa nhổ nước miếng xuống đất, trộn thành bùn và xức vào mắt người mù, rồi bảo anh: Anh hãy đến hồ Silôác mà rửa (Silôác có nghĩa là người được sai phái). Vậy anh ta đến rửa ở hồ, và khi về thì nhìn thấy” (Ga 9, 6 – 7). Khi được sáng đôi mắt thể lý, anh lại càng sáng đôi mắt tâm hồn nhiều hơn.

        Đôi mắt tâm hồn của anh càng sáng hơn được thể hiện ở chỗ trước kia qua người này người nọ kể, anh chỉ biết Chúa trong tâm trí, trong sự mường tượng. Và rồi anh sống trong niềm tin, hy vọng, chờ đợi một ngày nào đó sẽ gặp được Chúa. Hôm nay, anh được trực tiếp Chúa chữa bệnh. Tuy chưa thấy Chúa, chỉ cảm nhận được qua ngón tay Chúa bôi bùn lên mắt, và nghe tiếng Chúa bảo đi tới hồ Silôác rửa. Anh làm theo như lời Chúa dạy và được sáng mắt. Lúc này, đôi mắt tâm hồn anh sáng rực rỡ. Anh không sợ những người Do Thái, những người Pharisiêu tra vấn, hù dọa là tại sao anh được sáng mắt? Người nào chữa cho  anh? Anh trả lời dõng dạc, mạnh mẽ, dứt khoát, không do dự, không sợ hãi: “Họ hỏi lại anh mù: Còn anh, anh nghĩ gì về người đã mở mắt cho anh? Anh đáp: Người là một vị tiên tri” (Ga 9, 17). Hơn nữa, anh còn giới thiệu Chúa cho họ, mặc dù họ bắt bẻ, vặn vẹo anh đủ điều. Mục đích của họ để anh theo họ, chối bỏ Chúa đã chữa anh. Từ đó, họ đem điều này ra rêu rao trước mặt công chúng là Chúa vi phạm ngày sa bát, để làm giảm sút uy tín của Chúa, khiến cho dân chúng không còn coi Chúa là Thiên Chúa và đi theo nữa. Nhưng mà anh không thua họ: “Anh đáp: “Ðó mới thật là điều lạ: người đó đã mở mắt cho tôi, thế mà các ông không biết người đó bởi đâu. Nhưng chúng ta biết rằng Thiên Chúa không nghe lời những kẻ tội lỗi, mà hễ ai kính sợ Thiên Chúa và làm theo ý Chúa, thì kẻ đó mới được Chúa nghe lời. Xưa nay chưa từng nghe nói có ai đã mở mắt người mù từ khi mới sinh. Nếu người đó không bởi Thiên Chúa thì đã không làm được gì”. Họ bảo anh ta: “Mày sinh ra trong tội mà mày dám dạy chúng ta ư?” Rồi họ đuổi anh ta ra ngoài” (Ga 9. 30 – 34).

        Chúng ta thấy anh mù được ơn Chúa, được Chúa cho sáng đôi mắt phần xác, phần hồn. Còn những người Do Thái và Pharisiêu, họ có mắt cũng như không có mắt. Họ mù quáng vì họ cố tình không chịu tin nhận Chúa là Đấng Cứu Độ, là ánh sáng chiếu soi muôn loài: “Này đất Dơvulun và đất Néptali, hỡi con đường ven biển, và vùng tả ngạn sông Giođan, hỡi Galilêa, miền đất của dân ngoại! Đoàn dân đang ngồi trong cảnh tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng, những kẻ đang ngồi trong vùng bóng tối của tử thần, nay được ánh sáng bừng lên chiếu soi” (Mt 4, 14 – 16). Như vậy, những người Do Thái và Pharisiêu không nhận được ơn cứu độ của Chúa. Họ sẽ vẫn đi trong tối tăm lầm lạc cuộc đời: “Chúa Giêsu liền nói: Chính vì để luận xét mà Ta đã đến thế gian hầu những kẻ không xem thấy, thì được xem thấy, và những kẻ xem thấy, sẽ trở nên mù. Những người biệt phái có mặt ở đó liền nói với Người: Thế ra chúng tôi mù cả ư? Chúa Giêsu đáp: Nếu các ngươi mù, thì các ngươi đã không mắc tội; nhưng các ngươi nói Chúng tôi xem thấy, nên tội các ngươi vẫn còn (Ga 9,39 – 41).

         Điều quan trọng, qua phép lạ này, chúng ta cần phải giống như anh mù hôm nay là chúng ta hãy tin vào Chúa, tuyên xuyên Chúa là Thiên Chúa tình yêu, xót thương, quyền năng và tôn thờ Chúa, ăn năn sám hối, thay đổi cuộc sống theo thánh ý Chúa: “Chúa Giêsu hay tin họ đuổi anh ta ra ngoài, nên khi gặp anh, Người liền bảo: Anh có tin Con Thiên Chúa không? Anh thưa: Thưa Ngài, nhưng Người là ai để tôi tin Người? Chúa Giêsu đáp: Anh đang nhìn thấy Người và chính Người đang nói với anh. Anh ta liền nói: Lạy Ngài, tôi tin, và anh ta sấp mình thờ lạy Người” (Ga 9, 35 – 38). 

         Lạy Chúa, “Anh em thân mến, xưa kia anh em là sự tối tăm, nhưng bây giờ, anh em là sự sáng trong Chúa. Anh em hãy ăn ở như con của sự sáng, bởi vì hoa trái của sự sáng ở tại tất cả những gì là tốt lành, là công chính và chân thật” (Ep 5, 8). Xin Chúa thương ban cho chúng con ơn biết sống xa lánh tội lỗi để tâm hồn chúng con không bị mù lòa, qua đó chúng con thực hiện các nhân đức để làm gương sáng cho người khác trong việc giữ đạo Chúa. 

        Lạy Chúa, Chúa đã sai Con một giáng trần để thực hiện công trình kỳ diệu là cho loài người được hoà giải với Chúa. Xin ban cho toàn thể dân Chúa khắp hoàn cầu được lòng tin sống động để hăm hở đón mừng lễ Vượt Qua sắp tới. Amen.