Chúa Nhật VI Phục Sinh - Năm B
CÁC MÔN ĐỆ HAY ĐIỀU RĂN YÊU THƯƠNG
Chú giải mục vụ của Alain Marchabour

Phần thứ hai của diễn từ chỉ hướng đến các môn đệ là những kẻ đã khéo léo lựa chọn. Trong phần này, chỉ còn những kẻ thân tình với Chúa Giêsu ở lại. Danh từ “yêu thương” vang lên 12 lần, và sự bao hàm với động từ “yêu thương” (cc. 9-17) bao trùm và tô điểm toàn bộ bài diễn từ.

Ở đây rõ ràng ẩn dụ trở thành tỷ dụ: các hình ảnh lần lượt được giải thích cặn kẽ. “Sinh hoa trái” tương đồng với “yêu thương”. Trong khi mà Chúa Giêsu yêu thương đến cùng (13,1), Người mời gọi các môn đệ tự ghép vào chính tình yêu đó. Tính tương hỗ là luật yêu thương vận dụng cách kỳ diệu trong đoạn này: Như Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy… Như Thầy đã yêu thương anh em, anh em hãy yêu thương nhau. Trong tình huống này, sự hoàn lại và sự đáp nghĩa, luật của mọi tình yêu, luôn luôn hướng đến một đối tượng khác là nguồn mạch của nghĩa tình. Việc Chúa Giêsu đáp trả lại tình yêu của Chúa Giêsu dành cho họ phải được hướng đến mọi người anh em.

Từ “như” được lặp lại hai lần quả là quan trọng, vì nó nói lên mầu nhiệm sâu kín nhất của mặc khải: trước hết đó không phải là một sự so sánh; mà chính yếu là một sự ăn rễ sâu, một nền tảng. Tình yêu của Chúa Cha và của Chúa Giêsu biểu lộ trong sự nhập thể mà sự chết tỏ hiện cùng đích và ý nghĩa. Nhiều người đã nhận thấy trong việc nhấn mạnh về mối tương hỗ Cha / Con, Chúa Giêsu / cộng đoàn, môn đệ / môn đệ một giới hạn của tình yêu vô bến bờ trong Mt 5,44.46: “Còn Thầy, Thầy bảo anh em: hãy yêu kẻ thù… như vậy anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời, vì nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình, thì anh em nào có công chi?”. Nhưng mà ở đây Gioan nói về vấn đề khác, về tình yêu sâu xa giữa Chúa Cha và Chúa Con, tỏ hiện trên thập giá (3,16), khuôn mẫu và điểm quy chiếu để thiết lập cộng đoàn mới: “Phần chúng ta, chúng ta hãy yêu thương, vì Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta trước” (1Ga 4,19). Trong phân đoạn này của diễn từ, không còn có chỗ cho sự đe dọa hình phạt, những kẻ đối nghịch đã biến mất, dành chỗ cho bạn hữu, là những người đã được chọn và đã chọn.

Ở đây Chúa Giêsu nêu ra tiêu chuẩn để nhận ra bạn hữu của Người: đó là những ai thực hiện những điều Chúa Giêsu truyền dạy cho họ (c.14), nghĩa là những kẻ yêu thương nhau (cc. 15-17). Trong Tin Mừng, tình yêu luôn hiện hữu trong mọi bản văn Kinh Thánh: một đòi buộc cụ thể, một sự trung thành trong mọi hành động. Vốn là tôi tớ, các môn đệ đã trở thành bạn hữu. Chúa Giêsu đã chia sẻ với các môn đệ điều Người tâm đắc nhất, sự hiểu biết Chúa Cha (17,26) trong hết mọi sự (16,15). Nhờ Người, các môn đệ được Chúa Cha yêu mến như Người (16,27). Qua mọi thời đại, sự thân mật với Thiên Chúa là ước mơ của mọi người. Trong Cựu Ước, có vài bạn hữu của Thiên Chúa, như Abraham, đã gặp gỡ Thiên Chúa như gặp một người thân cận. Ông Môsê cũng đã kinh qua kinh nghiệm huyền nhiệm này. “Ông thân thưa cùng Chúa, diện đối diện, khác nào người ta chuyện vãn với bạn mình vậy” (Xh 33,11). Điều chỉ là đặc ân của một vài người, nhờ Chúa Giêsu, đã được trao ban cho tất cả những ai chấp nhận và trở thành môn đệ của Người.

Thật vậy, tình yêu này không thể là thành quả do quyết định duy nhất của người tín hữu: Chính Chúa Giêsu đã chọn bạn cho mình (6,70; 13,18). Đó là một ân nhưng không mà con người không nên tự phụ.