Chúa Nhật X thường niên  - Năm C
LÒNG TRẮC ẨN
TRẦM THIÊN THU

Người đời nói: “Đời là bể khổ”. Chúa Giêsu nói: “Ngày nào có cái khổ của ngày đó” (Mt 6:34). Quả thật, cuộc đời có quá nhiều nỗi đau khổ, thế nên rất cần tình yêu thương.

 

Mặc dù không là Kitô hữu, nhưng cố NS Trịnh Công Sơn đã có thể nhạy bén cảm nhận: “Sống trong đời sống cần có một tấm lòng, để làm gì em biết không? Để gió cuốn đi…! Hãy nghiêng đời xuống nhìn suốt một mối tình, chỉ lặng nhìn, không nói năng, để buốt trái tim…!” (Để Gió Cuốn Đi). Nghe chừng chua chát, nhưng cuộc đời là thế đó!

 

Bất kỳ ai cũng rất cần biết động lòng trắc ẩn, như Chúa Giêsu đã luôn chạnh lòng thương những người khốn khổ (Mt 9:36; Mt 14:14; Mt 15:32; Mt 18:27; Mt 20:34; Mc 1:41; Mc 6:34; Mc 8:2; Lc 7:13), thế nên Ngài muốn người ta cũng phải biết chạnh lòng mà sẵn sàng và thành tâm thương xót nhau, như người Samari, chứ đừng như thầy tư tế và thầy Lêvi (Lc 10:30-37), có chức quyền và có “tiếng” mà không hề có “miếng”. Vậy là vô ích vì chỉ lẻo mép!

 

TỬ NHI PHỤC SINH

 

Vì thiên tai, bà góa ở Xa-rép-ta, thuộc Xi-đôn, chỉ còn ít bột làm bánh để ăn rồi chờ chết, thế nhưng bà vẫn không ngần ngại chia sẻ phần bánh với ngôn sứ Êlia, và rồi bà được Chúa làm phép lạ cho “hũ bột không vơi, vò dầu chẳng cạn” (1 V 17:14). Nhưng sau đó, đứa con trai của bà ngã bệnh trầm trọng đến nỗi nó tắt thở. Bà trách với ông Êlia: “Hỡi người của Thiên Chúa, việc gì đến ông mà ông tới nhà tôi để nhắc lại tội tôi, và làm cho con tôi phải chết?” (1 V 17:18). Bà biết ông Êlia là “người của Chúa” nhưng bà vẫn trách ông, vì bà chạnh lòng do tội mình và bà rất thương con mình.

 

Thấy chạnh lòng thương, ông Êlia nói: “Bà đưa cháu cho tôi”. Ông bồng lấy đứa trẻ bà đang ẵm trong tay, đem lên phòng trên chỗ ông ở, và đặt nó nằm lên giường. Rồi ông kêu cầu Chúa: “Lạy Đức Chúa, Thiên Chúa của con! Chúa nỡ hại cả bà goá đã cho con ở nhờ, mà làm cho con bà ấy phải chết sao?” (1 V 17:20). Ông có “cách lạ” là ông nằm lên trên đứa trẻ ba lần, đồng thời kêu cầu Chúa: “Lạy Đức Chúa, Thiên Chúa của con, xin cho hồn vía đứa trẻ này lại trở về với nó!” (1 V 17:21). Và rồi Chúa đã nghe tiếng ông kêu cầu, cho hồn vía trở về với đứa trẻ, và nó sống.

 

Ông Êlia liền bồng đứa trẻ từ phòng trên xuống nhà dưới, trao cho mẹ nó và nói: “Bà xem, con bà đang sống đây!” (1 V 17:23). Bà không ngạc nhiên khi thấy con mình chết rồi mà được sống lại vì bà có đức tin mạnh mẽ. Bà nói với ông Êlia: “Vâng, bây giờ tôi biết ông là người của Thiên Chúa, và lời Đức Chúa do miệng ông nói ra là đúng” (1 V 17:24). Mẹ góa, con côi, Thiên Chúa đã chạnh lòng thương mà làm cho họ hai phép lạ, nhưng nguyên nhân chính là bà biết tín thác vào Thiên Chúa.

 

Tv 65:12 nói: “Bốn mùa Chúa đổ Hồng ân, Ngài gieo màu mỡ ngập tràn lối đi”. Vâng, “tất cả là Hồng ân” (Rm 4:16). Vì thế, chúng ta phải biết tạ ơn Chúa. Chúng ta càng phải tạ ơn Chúa khi được cứu thoát khỏi cảnh khổ: “Lạy Chúa, con xin tán dương Ngài, vì đã thương cứu vớt, không để quân thù đắc chí nhạo cười con. Lạy Chúa là Thiên Chúa con thờ, con kêu lên cùng Chúa, và Ngài đã cho con bình phục. Lạy Chúa, từ âm phủ Ngài đã kéo con lên, tưởng đã xuống mồ mà Ngài thương cứu sống” (Tv 30:2-4).

 

Với kinh nghiệm bản thân, tác giả Thánh Vịnh mời gọi: “Hỡi những kẻ tín trung, hãy đàn ca mừng Chúa, cảm tạ thánh danh Người. Người nổi giận, giận trong giây lát, nhưng yêu thương, thương suốt cả đời. Lệ có rơi khi màn đêm buông xuống, hừng đông về đã vọng tiếng hò reo” (Tv 30:5-6). Người Việt chúng ta cũng cảm nhận và nói: “Thương con cho roi cho vọt, ghét con cho ngọt cho bùi”. Xem chừng yêu thương cũng chẳng dễ, vì phải biết cách yêu cho phù hợp.

 

Khi cầu xin: “Lạy Chúa, xin lắng nghe và xót thương con, lạy Chúa, xin phù trì nâng đỡ” (Tv 30:11), Thiên Chúa liền cứu giúp, vì “khúc ai ca, Chúa đổi thành vũ điệu, cởi áo sô, mặc cho lễ phục huy hoàng” (Tv 30:12). Chúa dễ thương quá chừng, Chúa đáng yêu biết bao! Do đó, hãy thân thưa với Ngài: “Tâm hồn con ca ngợi Chúa, và không hề nín lặng. Lạy Chúa là Thiên Chúa con thờ, xin tạ ơn Ngài mãi mãi ngàn thu” (Tv 30:13).

 

Thánh Phaolô xác nhận: “Thưa anh em, tôi xin nói cho anh em biết: Tin Mừng tôi loan báo không phải là do loài người. Vì không có ai trong loài người đã truyền lại hay dạy cho tôi Tin Mừng ấy, nhưng là chính Đức Giêsu Kitô đã mặc khải” (Gl 1:11-12). Rồi thánh nhân giải thích: “Anh em hẳn đã nghe nói tôi đã ăn ở thế nào trước kia trong đạo Do-thái: tôi đã quá hăng say bắt bớ, và chỉ muốn tiêu diệt Hội Thánh của Thiên Chúa. Trong việc giữ đạo Do-thái, tôi đã vượt xa nhiều đồng bào cùng lứa tuổi với tôi: hơn ai hết, tôi đã tỏ ra nhiệt thành với các truyền thống của cha ông” (Gl 1:13-14). Thánh Phaolô đã sáng “con mắt đức tin”, nhận ra sai lầm nghiêm trọng của mình sau khi bị ngã ngựa, bị mù và được sáng mắt lại.

 

Không chỉ vậy, Thánh Phaolô còn nhận thức sâu xa hơn và giải thích thêm: “Thiên Chúa đã dành riêng tôi ngay từ khi tôi còn trong lòng mẹ, và đã gọi tôi nhờ ân sủng của Người. Người đã đoái thương mặc khải Con của Người cho tôi, để tôi loan báo Tin Mừng về Con của Người cho các dân ngoại. Tôi đã chẳng thuận theo các lý do tự nhiên, cũng chẳng lên Giêrusalem để gặp các vị đã là Tông Đồ trước tôi, nhưng tức khắc tôi đã sang xứ Ả-rập, rồi lại trở về Đa-mát. Ba năm sau tôi mới lên Giêrusalem diện kiến ông Kê-pha, và ở lại với ông mười lăm ngày. Tôi đã không gặp một vị Tông Đồ nào khác ngoài ông Giacôbê, người anh em của Chúa” (Gl 1:15-19).

 

Tất cả không ngoài Thánh Ý Quan Phòng và Tiền Định của Chúa, đó chính là cách chạnh lòng thương của Ngài, là Tình Yêu vĩnh hằng, là Lòng Thương Xót đời đời của Ngài.

 

THANH NIÊN SỐNG LẠI

 

Có nhiều kiểu chạnh lòng, nhưng chạnh lòng thương mới là điều quan trọng. Vì không chạnh lòng nên ngày nay người ta hóa vô cảm. Vô cảm là chứng “ung thư” của thời đại vì “tế bào” chạnh-lòng-thương đã bị miễn nhiễm, như người ta thường nói: “Sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi”.

 

Lối sống “ung dung tự tại” như vậy là trái ngược với Luật Chúa: Yêu thương – nghĩa là cơ bản nhất phải biết “chạnh lòng thương”. Quả thật, chính Ngài luôn chạnh lòng thương người khác (Mt 9:36; Mt 14:14; Mt 15:32; Mt 20:34; Mc 1:41; Mc 9:22), dù họ chỉ là những kẻ vô danh tiểu tốt, Ngài còn chạnh lòng thương đến bật khóc trước cái chết của Ladarô (Ga 11:32-35).

 

Và Ngài chạnh lòng thương với cả con trai của một bà góa nọ. Điều này cũng chứng tỏ sự sống vô cùng quan trọng, vì thế mà mọi người đều phải bảo vệ sự sống, dù chỉ là một sinh linh bé nhỏ, một thai nhi. Hôm đó, khi Đức Giêsu đến gần cửa thành Nain (thuộc Galilê, cách Nadarét khoảng 6 dặm về phía Nam), người ta đang khiêng đi chôn người con trai duy nhất của một bà goá. Mẹ mất con thì đau lòng mẹ lắm. Tình mẫu tử vô cùng kỳ diệu. Chắc hẳn trông người mẹ này rất thảm não. Thế nên vừa trông thấy bà, Chúa chạnh lòng thương và nói: “Bà đừng khóc nữa!” (Lc 7:13). Mẹ mất con mà sao Ngài lại bảo “đừng khóc” ư? Ngược đời chăng? Không. Bởi vì Ngài biết mình sắp làm gì: Tỏ lòng thương xót cho mẹ góa con côi này.

 

Rồi Ngài lại gần, sờ vào quan tài. Đức Giêsu nói: “Này người thanh niên, tôi bảo anh: hãy trỗi dậy!” (Lc 7:14). Người chết liền ngồi lên và bắt đầu nói. Chuyện xảy ra nhãn tiền trước mặt cả đám đông mà y như trong phim. Thật kỳ diệu! Chắc chắn không ai có thể vui sướng hơn bà góa vào lúc này.

 

Quả là một sự kiện lạ lùng vô tiền khoáng hậu! Thế nên khi thấy vậy, mọi người không chỉ ngạc nhiên mà còn kinh sợ, phải công nhận và lên tiếng tôn vinh Thiên Chúa: “Một vị ngôn sứ vĩ đại đã xuất hiện giữa chúng ta, và Thiên Chúa đã viếng thăm dân Người” (Lc 7:16).

 

Thánh Luca cho biết rạch ròi: “Lời này về Đức Giêsu được loan truyền khắp cả miền Giuđê và vùng lân cận” (Lc 7:17). Không loan truyền sao được khi nghe nói về sự lạ, mà đây lại chính họ tận mắt tỏ tường.

 

Chúa Giêsu đã làm nhiều phép lạ, mục đích không phải để được nổi tiếng lẫy lừng mà là xác nhận cho mọi người biết rằng Ngài đích thực là Con Thiên Chúa, là Đấng Thiên Sai, đến thế gian để trao ban Lòng Chúa Thương Xót cho những người thành tín. Ngài đã chứng tỏ quyền năng trên mọi loài, trên bệnh thể lý và tinh thần, kể cả cái chết, và ngay cả Satan cũng phải chịu “bó tay” khi đối đầu với Ngài.

 

Cái chết là thất bại lớn nhất của nhân loại. Người ta tìm mọi cách để chữa bệnh hoặc kéo dài sự sống, nhưng cũng chỉ trong giới hạn nào đó, dù có thể cải lão hoàn đồng, nhưng không thể trường sinh bất tử. Sự chết không là hình phạt của tội lỗi mà là hậu quả của tội lỗi (x. St 3:17-19). Điều đó xác quyết rằng “ai cũng phải chết một lần” (x. Dt 9:27). Sự chết là chấm dứt sự sống, nhưng không là hủy diệt. Chết là trả lại hơi thở cho Thiên Chúa (x. Gv 12:7). Con người gồm hai phần: Xác và hồn. Xác không hơi thở thì chỉ là tử thi (x. Gc 2:26).

 

Tại sao chúng ta chết về thể lý? Thánh Phaolô nói: “Anh em đã chết vì những sa ngã và tội lỗi của anh em” (Ep 2:1). Còn cái chết tâm linh? Cũng như cái chết thể lý, đó là linh hồn xa cách Thiên Chúa: “Không phải Đức Chúa ngắn tay không thể cứu, cũng chẳng phải Người nặng tai không nghe được, mà chính lỗi lầm của các ngươi đã phân cách các ngươi với Thiên Chúa các ngươi; chính tội lỗi các ngươi đã khiến Người ẩn mặt để khỏi nhìn, khỏi nghe các ngươi” (Is 59:1-2). Đó là vấn đề mà ai cũng phải đối mặt: “Mọi người đã phạm tội và bị tước mất vinh quang Thiên Chúa” (Rm 3:23). Nhưng có cái chết thứ hai còn nguy hiểm hơn: “Những kẻ hèn nhát, bất trung, đáng ghê tởm, sát nhân, gian dâm, làm phù phép, thờ ngẫu tượng, và mọi kẻ nói dối, thì phần dành cho chúng là hồ lửa và diêm sinh cháy ngùn ngụt: đó là cái chết thứ hai” (Kh 21:8). Cái chết thể lý chấm dứt cuộc sống đời này, nhưng cái chết tâm linh mới là hậu quả vĩnh viễn!

 

Cái chết bị coi là kẻ thù (1 Cr 15:25-26). Nhưng Chúa Giêsu lại dùng cái chết để giải thoát chúng ta khỏi nỗi sợ hãi và hệ lụy của Tử thần (Dt 2:14-15), như người ta thường nói: “Dĩ độc trị độc”.

 

Đối với các Kitô hữu, chết không là chấm hết, mà là hy vọng: “Thưa anh em, về những ai đã an giấc ngàn thu, chúng tôi không muốn để anh em chẳng hay biết gì, hầu anh em khỏi buồn phiền như những người khác, là những người không có niềm hy vọng. Vì nếu chúng ta tin rằng Đức Giêsu đã chết và đã sống lại, thì chúng ta cũng tin rằng những người đã an giấc trong Đức Giêsu, sẽ được Thiên Chúa đưa về cùng Đức Giêsu” (1 Tx 4:13-14). Chết là một mối lợi (Pl 1:21), và là niềm hạnh phúc: “Phúc thay những người đã chết, mà được chết trong Chúa! Họ sẽ được nghỉ ngơi, không còn vất vả nhọc nhằn nữa, vì các việc họ làm vẫn theo họ” (Kh 14:13). Đối với các Kitô hữu, cái chết không là mối sợ hãi, mà là sự giải thoát. Họ có niềm hy vọng khác thường, nhưng chắc chắn chứ không mơ hồ hoặc hão huyền, vì chết là biến đổi, là trường sinh bên Thiên Chúa vĩnh hằng. Người không là Kitô hữu không thể nào hiểu được điều này, và rất có thể họ coi các Kitô hữu là những kẻ điên rồ! Phải chăng vì vậy mà người ta luôn tìm cách bách hại các Kitô hữu cho “biết tay”, và thách thức xem chúng ta phản ứng thế nào chăng? Có thể lắm!

 

Lạy Thiên Chúa, xin chạnh lòng thương xót kiếp phàm nhân yếu đuối của chúng con mà lau sạch nước mắt chúng con. Xin giúp chúng con biết chạnh lòng thương tha nhân, nhất là những người bất hạnh, như Đức Kitô đã làm, để cho chúng con xứng đáng làm hậu duệ của Ngài và có thể xứng đáng được đồng hưởng vĩnh phúc Thiên quốc muôn đời. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ chúng con. Amen.