|
Ba câu
mở đầu bài Tin Mừng là lời dẫn nhập cho “ba dụ ngôn về lòng thương xót”:
con chiên lạc tìm được, đồng tiền đánh mất tìm được, đứa con đi hoang
tìm được. Như thế, ba câu chuyện này đã được Đức Giêsu kể để tự biện hộ
về những quan hệ chướng tai gai mắt (đối với phái Pharisêu) mà Người có
với những “kẻ tội lỗi”.
“Một người kia có hai con trai…” Ta thường có thói quen xấu là chỉ nghe
nửa đầu của dụ ngôn, phần nói về đứa con thứ. Thế nhưng, ông cha mới là
người hùng của câu chuyện. Chúng ta sắp nghe không phải dụ ngôn “Người
con phung phá” song là “Người cha phung phí”, một vở kịch hai màn: cuộc
“tranh chấp” giữa một người cha với 2 đứa con, cả hai đều được yêu mến
như nhau, yêu mến điên cuồng, mặc dầu chẳng có đứa nào xứng đáng với
tình yêu đó cả! Một câu chuyện tình cảm động nhất (Charles Dickens), một
hình ảnh đẹp nhất của Cha trên trời!
1- Thái độ của người cha đối với đứa con thứ
Đứa con này chỉ là một tên trục lợi: nó đòi tiền bạc, rất nhiều tiền
bạc. Nó chỉ nghĩ tới mình. Nó nhận tất cả từ cha, nhưng chẳng hề biết ơn
cha, mà chỉ nghĩ một chuyện: đòi hỏi, yêu sách… Phần người cha thì hoàn
toàn trái ngược. Ông chỉ là cho không, chia sẻ vô vị lợi, tôn trọng tự
do người khác, tóm lại chỉ là tình yêu! Hình ảnh Thiên Chúa!
Đứa con thứ chính là hình ảnh Biệt phái vẫn thường vẽ lên về tội nhân:
a/ Là đứa con nổi loạn, đòi độc lập tự chủ, y quả tượng trưng chủ nghĩa
vô thần của mọi thời: hưởng dùng các “ân huệ” của Thiên Chúa nhưng chẳng
thừa nhận Thiên Chúa, còn sống xa Người, muốn làm mọi chuyện mà chẳng bị
ai kiểm soát cả: “không Chúa không chủ”. Điều đó đặc biệt đúng với hôm
nay! b/ Hơn nữa, đối với Biệt phái, đứa con Israel này đã xuống tới đáy
ti tiện đê hèn. Nó đã bán thân làm nô lệ cho một người ngoại, thành thử
chẳng còn giữ ngày sabát cũng như các tập tục về thanh sạch: nó chăn
heo, con vật nhơ bẩn, ghê tởm, bị cấm đoán. c/ Hơn nữa, dẫu chỉ xét về
mặt con người, sống như thế cũng không hợp luân lý: đây là một tên phóng
đãng, một loại người hạ đẳng, biến chất, trở lùi lại thú tính. Nó sống
như một loài heo: kiếm tiền, ăn nhậu, làm tình… chỉ biết đến cái tôi,
thuần mơ chuyện hưởng thụ…
Ta quả là tô vẽ nó khi ca ngợi sự hoán cải của nó. Không, đứa con thứ
vẫn chẳng có thần nào khác ngoài tư lợi ích kỷ: đổ cho đầy bụng! Việc nó
trở lại nhà chỉ là một tính toán đê tiện nhằm tìm lại chỗ trú và bàn ăn.
Câu nói hoa mỹ, nghe rất lâm ly bi đát, chỉ là một màn kịch soạn sẵn
nhằm làm mủi lòng người cha mà nó nghĩ là sẽ la rầy, trừng phạt nó đích
đáng và… chính đáng. Có đứa con nào đi xa nay trở về thăm cha mẹ mà lại
chuẩn bị trước những câu nói vốn sẽ tự nhiên trào ra tận đáy lòng một
khi trông thấy quê nhà dấu yêu? Đứa con thứ xót bụng hơn đau lòng! Nó
đúng là một tên khốn khiếp, nạn nhân của các bản năng, của lũ bạn bè quý
hóa: nó đã đánh mất tập quán yêu thương, chỉ còn biết nghĩ tới chính
mình. Lạy Chúa, đó là hình ảnh của con. Con thường sống như vậy!
Thằng con trở về với ý đồ đê tiện. Nhưng khi “nó còn ở đằng xa”, còn
chưa mở miệng thì người cha đã làm tất cả. Bốn cử chỉ: “ông đã trông
thấy nó”, “ông chạnh lòng thương…”, “ông bổ nhào ra…”, “ông ôm cổ nó và
hôn lấy hôn để”. Cử chỉ chạy bổ nhào ra có lẽ là cử chỉ mạnh nhất của
toàn thể dụ ngôn. Trong tập quán của mọi thời, không có chuyện một người
trên chạy tới với một người dưới, nhất là khi kẻ dưới này có một thái độ
đáng trách. Đây lại là một ông già đông phương đường bệ, lúc nào cũng ăn
nói và đi đứng khoan thai từ tốn.
Vâng, ta bóp méo hoàn toàn dụ ngôn của Đức Giêsu khi trình bày cuộc trở
về của đứa con này như mẫu gương “hoán cải”. Nếu Đức Giêsu chỉ mô tả sự
“thống hối” của một tội nhân, giáo huấn này đã chẳng gây khó chịu cho
người Biệt phái. Tại Israel, người ta đã biết từ lâu, toàn thể Kinh
Thánh làm chứng, là Thiên Chúa tha thứ cho tội nhân hoán cải. Nhưng thái
độ của người cha ở đây còn đi xa hơn nhiều: ông không mảy may lưu ý xem
thằng con biểu lộ một lòng thống hối đích thực hay giả tạo. Ngay khi nó
còn ở đằng xa, ông đã chạy ra gặp nó. Đức Giêsu không nhấn mạnh đến thái
độ của đứa con hoang đàng, trên những cử chỉ thống hối đền tội của nó,
nhưng trên tình yêu vô vị lợi của người cha… một người cha đã tha thứ vô
điều kiện, trước khi đứa con thú lỗi! Đức Giêsu nói cho ta biết “làm
con” là gì: trước hết đó không phải là có thái độ thế này thế kia với
cha hay mẹ… nhưng là được cha và mẹ thương yêu, cho dù mình xứng hay bất
xứng! Đó đã là mạc khải của ngôn sứ Hôsê: Thiên Chúa tiếp tục yêu thương
cô vợ bất trung bất tín của Người (Hs 3,1; 11,1-9; 14,5-9). Hỡi những ai
tự nhận là vô thần, những ai sống như kẻ vô thần, những ai đã xa lìa
Thiên Chúa vì tội lỗi, Đức Giêsu nói với quý vị: “Cho dẫu bạn không tin
Thiên Chúa lẫn yêu mến Người, Người cũng chẳng bao giờ ngừng tin và yêu
bạn!”. Ta hiểu vì sao những kẻ tội lỗi đã chạy đến cùng Đức Giêsu.
Trong vòng tay cha, thằng con bắt đầu tụng lên câu nói đã dọn sẵn, nhưng
ông không để nó kết thúc. Ông chẳng cần biết nó dối trá hay chân thành.
Ông chỉ biết nó là con ông và ông là cha nó. Trái tim tràn tình yêu của
ông khiến ông đổ đầy nó bằng tặng phẩm! Đây quả thực là một lễ cưới: áo,
nhẫn, giày, tiệc, ca nhạc, quả thực là nghi lễ phục hồi chức vị làm con.
Ông lăng xăng chạy từ nhà trên xuống nhà dưới, từ đầu sân đến cuối sân,
hối thúc gia nhân dọn tiệc. Niềm vui ông thật vỡ bờ. Nếu có hình dung sự
hoán cải của thằng con đểu giả thì chính là lúc này đây, khi nó đứng
giữa sân như trời trồng rồi khóc lên sung sướng vì nhận thấy tất cả tình
thương bao la vĩ đại của cha. Nhưng đó không phải là điều tác giả dụ
ngôn muốn đề cập.
Tình thương của người cha được cô đọng trong câu: “Con ta đây đã chết mà
nay sống lại, đã thất lạc mà nay lại tìm thấy”. Đây là điệp khúc chấm
dứt màn nhất của vở kịch. Lát nữa ta sẽ gặp lại nó cuối màn hai với vài
từ thay đổi. Chết-sống… Thất lạc-tìm lại… Cái chết nào đối với Đức Giêsu
đây? Mạc khải nào Người muốn đưa ra cho nhân loại đây? Thưa rằng: xa
Thiên Chúa, đó là chết, đó là đánh mất chính mình! Con người chỉ hiện
hữu thật sự trong mối tương quan với Thiên Chúa thôi. Người ta có thể
tưởng mình sống, thế mà đã chết trong thực tế.
Nhưng khi phàm nhân trở về, thì “cuộc liên hoan” của Thiên Chúa bắt đầu,
“niềm vui” của Thiên Chúa nở rộ! Hoán cải, đó đơn giản là đi vào niềm
vui của Thiên Chúa. Đấy chính là chuyện mà anh con cả sắp khước từ.
2- Thái độ của người cha đối với đứa con cả.
Đối với đứa con cả, người cha cũng biểu lộ một lòng tốt như thế: “ông ra
gặp chàng trước…”, “ông năn nỉ chàng…”. Kinh Thánh thường trở đi trở lại
trên chủ đề này, chủ đề về tính nhưng không tuyệt đối của các hồng ân
Thiên Chúa, qua hình ảnh con thứ thay thế con cả (St 27,36; 2Mcb 4,26;
Cn 30,23; Hs 12,4), hình ảnh “những người thợ giờ cuối cùng” cũng được
trả công bằng “những người thợ giờ thứ nhất” (Mt 20,8), hình ảnh “những
kẻ đứng chót sẽ lên hàng đầu” (Lc 13,30), hình ảnh “lương dân” sẽ thay
thế “tuyển dân” (Rm 9,30). Tất cả đều nói lên tự do cao vời và tính cách
nhưng không của tình yêu Thiên Chúa.
Đối với đứa con thứ, người cha đã không muốn nghe gì hết. Nay đối với
anh con cả, ông để cho chàng mặc sức trút lên đầu ông bầu tâm sự đầy cay
đắng, phẫn nộ. Có lẽ anh cũng có lý của mình. Anh ta chính là chân dung
của người Biệt phái mà Đức Giêsu muốn khắc vẽ. Câu quả quyết của anh:
“Ông coi, đã bao năm trời tôi làm tôi ông, cũng chưa hề lướt lịnh ông”
quả là đúng với sự thật, làm nổi bật hình ảnh phái Pharisêu tự hào vì đã
giữ trọn luật (x. Lc 18,9). Thái độ của anh không kể gì đến tương quan
anh em nữa (“thằng con của ông”) và nói về em một cách khinh bỉ đúng là
thái độ của phái Pharisêu đối với hạng mà họ gọi là tội nhân. Bản dịch
Anh ngữ câu nói của người con cả này còn cho ta một chi tiết lý thú:
“thì ông lại giết con bê chúng ta đã cùng vỗ béo” (you kill the calf we
had been fattening). Đúng là chua chát và ghen tức đến cực điểm! Riêng
đối với cha, anh đã biến mình thành tôi tớ, biến tình thương thành nô
dịch.
Như thế, người con cả cho ta thấy chính trọng tâm của dụ ngôn: anh ta đã
không nhận rõ tất cả tình yêu đang bao phủ anh: “Con à, lúc nào con cũng
ở với cha, mọi sự của cha đều là của con hết thảy. Nhưng chúng ta phải
ăn mừng, vì em con đây…” Người cha sửa lại lối nói của người anh một
cách tế nhị (“em con đây” đối lại “con ông đó”). Qua dụ ngôn hai màn
này, thành thử chúng ta được mời đi vào trong tình yêu của Thiên Chúa,
trong niềm vui của Người được gặp lại các tội nhân. Đây là lời loan báo
sự hoán cải của lương dân sẽ đi vào trong “dân mới của Thiên Chúa” hàng
loạt. Một ngày kia, Luca sẽ đặt trên miệng Phêrô câu nói này khi nhận ra
ân sủng ban cho viên bách quản ngoại đạo: “Vậy nếu Thiên Chúa đã ban cho
họ cùng một ân huệ như Người đã ban cho chúng ta, vì chúng ta tin vào
Chúa Giêsu Kitô, thì tôi là ai mà dám ngăn cản Thiên Chúa” (Cv 11,17).
Không, không có ưu đãi: hết thảy đều được Cha trên trời mến yêu.
Và dụ ngôn “đứa con thất lạc tìm thấy” (hay đúng hơn “người cha phung
phí”, phung phí tình yêu) kết thúc với cùng một điệp khúc vui tươi như
hai dụ ngôn trước (xin xem Chúa nhật 24 thường niên năm C). Màn hai của
dụ ngôn lấy lại câu kết luận của màn đầu, với việc đổi từ “con ông” bằng
“em con” như đã ghi nhận. Thiên Chúa là Cha, điều đó chắc chắn: Người
yêu hết thảy con cái của mình. Nhưng nhân loại có là anh em với nhau
không? Phải chăng anh con cả sẽ để mình bị thuyết phục và “đi vào chung
hưởng niềm vui với cha”? Chúng ta không biết. Dụ ngôn vẫn bỏ ngỏ. Vì
chính người Biệt phái, chính chúng ta phải cho nó một kết luận: đi vào
cuộc liên hoan với Thiên Chúa, cuộc liên hoan mừng kẻ tội lỗi trở về.
(Viết theo Nil Guillemette SJ, Parables for today) |