Đọc trang Tin Mừng hôm nay, tôi thấy man mác một
màu tím buồn với người con thứ.
Người con thứ đòi Cha chia gia tài rồi bỏ đi vô
tình. Rời khỏi ngôi nhà, nơi nó sinh ra, nơi nó
được nuôi dưỡng và lớn lên. Trẩy đi miền xa,
người trai trẻ mang nỗi khát khao mãnh liệt là
ra khỏi luỹ tre làng, muốn nhìn xem thế giới mới
lạ bên ngoài, thích miền xa hơn là gần gũi quê
nhà.
Người con thứ bỏ nhà ra đi với tiền bạc và lòng
kiêu ngạo. Nó quyết sống riêng tách khỏi gia
đình và cộng đoàn. Nó ra đi không phải để học
hành, chẳng phải tìm việc làm mà là ăn chơi đàng
điếm. Nó phung phí hết tài sản và sức khoẻ, bất
kể đó là mồ hôi nước mắt của cha mẹ, bất chấp
tiếng tốt của gia đình. Chơi bời trác táng nên
mau chóng suy sụp. Nó trở nên hèn hạ khi đi chăn
heo và muốn ăn thức ăn của heo. Heo là con vật
người Do thái ghê tởm.
Khi trở về nó chẳng còn gì cả. Tiền bạc, sức
khoẻ, danh giá, lòng tự trọng… mọi thứ đã bị
tiêu xài hoang phí. Nó chỉ còn lại một điều duy
nhất là ”đứa con nhỏ của cha nó”.
Động lực nào đã khiến nó trở về ? Thánh Luca
viết rõ: “Hồi tâm lại, nó nói: biết bao người
làm công cho Cha tôi có dư thừa bánh ăn, còn tôi
thì phải chết đói ở đây ! Thôi, đứng lên, tôi sẽ
về cùng Cha tôi”. Như thế động lực nó trở về là
đói, vì miếng ăn. Trước khi bị đói chắc chắn nó
không bao giờ nhớ đến Cha, không bao giờ sám hối
vì bỏ Cha ra đi, không thấy băn khoăn hồi tâm về
mái ấm gia đình, nơi còn có Cha già chẳng biết
đau yếu ra sao, không thấy tiếc nuối vì phá tan
cả sự nghiệp của Cha. Khi bị cơn đói hành hạ,
phải đi chăn heo, nó mới băn khoăn tìm đường về.
Cái hồi tâm, cái băn khoăn của nó là làm sao để
được ăn. Nó dự tính nói với Cha là nó “trót phạm
lỗi nghịch với trời, nó không còn đáng gọi là
con, nó chỉ xin được đối xử như người làm công”.
Phải chăng đó là một cuộc trở về trọn vẹn? Đó là
cuộc lên đường được thúc đẩy bởi lòng sám hối
hay sao ? Sự thống hối của nó chỉ là vị kỷ nhằm
khả năng có thể sống sót thôi.
Nếu người con thứ thành công xây dựng cơ nghiệp,
có lẽ sẽ không hiểu được tình Cha. Vì nếm mùi
thất bại chua chát của cuộc đời nên nó lên đường
trở về. Nó không đủ can đảm đi làm người ăn xin.
Nó không đủ liều mạng để đi trộm cướp. Nó không
dám đánh đổi cả cuộc đời để gây tiếng xấu. Nó
sống bằng nghề lương thiện là đi chăn heo, sống
bằng sức lao động của mình. Từ kinh nghiệm của
vực thẳm này, nó mới hiểu được mặt trái cuộc
đời. Đó không là chốn nương thân cho kẻ nghèo
khổ, không là chỗ hạnh phúc cho kẻ khố rách áo
ôm, không là chỗ cho kẻ cô thân cô thế. Vì vậy
chỉ còn một con đường duy nhất là trở về xin tha
thứ và làm công cho Cha để có cơm ăn áo mặc.
Tất cả ý nghĩa của cuộc trở về được diễn tả cách
cô đọng trong những lời “Cha ơi... con không
đáng gọi là con Cha nữa”.
Giuđa đã phản bội Chúa, Phêrô đã chối Chúa. Cả
hai đều đánh mất tình con cái. Giuđa không còn
tiếp tục tin tưởng mình vẫn là con Chúa, không
tin vào lòng tha thứ của Chúa nên đã đi thắt cổ
tự vẫn.Còn Phêrô khi ở giữa sự tuyệt vọng đã
muốn nối lại tình Cha - con với những giòng nước
mắt thống hối. Giuđa chọn cái chết. Phêrô chọn
sự sống.
Đọc câu chuyện, thấy sự trở về của người con thứ
chẳng phải là mẫu mực. Sự trở về lý tưởng phải
là sự trở về của lòng sám hối với tình yêu tha
thiết. Nhưng trong thực tế cuộc sống, khi ngồi
giải tội có nhiều hối nhân sau 5 năm, 10 năm
thậm chí đến 20 năm, 30 năm mới trở về cùng
Chúa. Mỗi người mỗi hoàn cảnh khác nhau. Những
bầm dập của của cuộc đời, những gian truân vất
vả, những thất bại chua chát… đã cho họ rút kinh
nghiệm là cần trở về với Chúa, nguồn mạch của
bình an nội tâm, của niềm vui và hạnh phúc.
Chính Chúa đã yêu thương, đã tác động và một khi
nào đó như Chúa muốn họ trở về cùng Ngài. Như
thế họ đã chọn lấy sự sống. Gặp gỡ nhiều người
như thế, tôi cảm thông với người con thứ.
Cần phải trở về trong vòng tay của Thiên Chúa là
Cha. Cho dù con tội nặng thế nào cũng được Cha
tha thứ. Vì Thiên Chúa đã sáng tạo nên con
người, muốn cho con người được sống hạnh phúc.
Thiên Chúa không thể ngồi yên để cho con người
rơi xuống vực thẳm.
Nhiều người không chấp nhận lối hành xử nhân
lành của Thiên Chúa theo dụ ngôn “Người Cha nhân
hậu”. Kiểu cách suy tư và thái độ của người anh
cả là một biểu trưng. Người anh cả tưởng rằng,
Thiên Chúa chỉ có nhiệm vụ thưởng người có công,
phạt kẻ có tội. Người anh cả không hiểu rằng,
Thiên Chúa không thể đứng yên nhìn cảnh con
người bị hư mất, chịu thất bại trong ơn gọi làm
người do chính Ngài tạo dựng nên; Ngài gìn giữ,
yêu thương quí mến, nâng niu trong bàn tay nhân
hiền của Ngài hay sao? Ðể cứu rỗi loài người
khỏi hư mất, khỏi thất bại trong ơn gọi cao cả
ấy, Thiên Chúa đã nhập thể làm người, làm anh,
làm cha, làm mẹ để đem người con trở về trong
vòng tay yêu thương của Ngài.
Anh Piere Marie người sáng lập Huynh Đoàn
Giêrusalem, một cộng đoàn các tu sĩ sống trong
thành phố, đã suy niệm về Chúa Giêsu như người
con hoang đàng theo Phúc Âm một cách thú vị. Xin
trích dẫn tác phẩm “Người Cha Nhân Hậu” của
Henri J. M. Nouwen, trong đó có một đoạn anh
Pierre Marie đã viết:
“Đức Giêsu được sinh ra không bởi dòng dõi, ước
muốn hay ý chí của con người, nhưng bởi chính
Thiên Chúa. Một ngày kia, Ngài đã để mọi sự dưới
chân Người và ra đi với gia sản của Ngài, là
tước hiệu làm Con Thiên Chúa của Ngài…
Với giá chuộc tất cả, Ngài đã ra đi tới miền
xa... miền đất rất xa... nơi mà Ngài đã trở
thành như con người và đã làm trống rỗng chính
mình. Chính dân của Ngài cũng không nhận biết
Ngài và cái giường đầu tiên của Ngài là một nệm
rơm. Giống như một cây đâm rễ nơi đất khô cằn,
Ngài trưởng thành trước chúng ta, đã bị khinh bỉ
là hạng thấp nhất trong con người. Chẳng bao lâu
Ngài đã nếm sự lưu đày, sự chống đối, sự cô
độc... sau khi đã cho đi mọi thứ trong đời sống
cách rộng rãi, của cải, bình an, ánh sáng, sự
thật, chính đời sống của Ngài... mọi kho tàng
hiểu biết, khôn ngoan và mầu nhiệm đã được giữ
kín từ muôn đời.
Sau khi đã hạ mình xuống ở giữa những con cái hư
mất của nhà Israel, Ngài đã phung phí thời giờ
của Ngài với những người đau ốm tật nguyền, với
những người tội lỗi, ngay cả với những gái điếm,
Ngài cũng hứa cho họ vào Nước của Cha Ngài; sau
khi đã bị đối xử như một tên tham ăn, như một
bợm nhậu, như một người bạn của bọn thu thuế và
tội lỗi, như một người Samaria, một người bị quỷ
ám, một kẻ phạm thượng; sau khi đã hiến dâng tất
cả mọi sự, ngay cả thân xác và máu Ngài; và khi
linh hồn Ngài cảm thấy một nỗi buồn sâu xa, hấp
hối, phiền sầu; sau khi đã đi tới đáy của sự
tuyệt vọng, Ngài muốn mặc lấy nơi mình sự bị bỏ
rơi bởi Cha, lìa xa ngưồn Nước Hằng Sống, Ngài
đã kêu lên từ Thánh Giá nơi Ngài bị đóng đinh:
”Ta khát”. Ngài đã yên nghỉ trong bụi đất và
bóng đêm sự chết. Ba ngày sau Ngài Phục Sinh,
chỗi dậy từ chiều sâu ngục tối nơi Ngài đã
xuống, Ngài đã mang lấy tội lỗi của chúng ta,
Ngài đã gánh hết những đau thương của chúng ta.
Đứng thẳng, Ngài kêu lên: ”Phải, Ta lên Trời với
Cha Ta cũng là Cha của con, là Thiên Chúa Ta
cũng là Thiên Chúa các con”. Và Ngài đã trở lại
Thiên Đàng...
Trong sự thinh lặng chiêm ngắm tất cả con cái
trong Người Con từ khi Người Con trở thành tất
cả cho mọi người, Người Cha nói với các tôi tớ:
”Nhanh lên, hãy mang áo đẹp nhất mặc cho cậu,
hãy xỏ nhẫn vào tay cậu, giày vào chân cậu.
Chúng ta hãy mở tiệc ăn mừng, vì con Ta đã chết
nay sống lại, đã mất nay lại tìm thấy... Người
Con Hoang Đàng của Ta đã mang tất cả mọi ngươì
trở về...”
Và tất cả bọn họ bắt đầu dự tiệc, mang trên mình
chiếc áo trắng dài đã được giặt sạch trong máu
của Con Chiên...”