| Chúa Nhật II Phục Sinh - Về Lòng Thương Xót của Thiên Chúa |
| TỪ NHẬN BIẾT ĐẾN... |
Fiches Dominicales |
|
TỪ NHẬN BIẾT ĐẾN RAO GIẢNG TIN MỪNG VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI: 1. Từ Chúa nhật... Chúng ta đang ở vào thời điểm sau cái chết của Đức Giêsu, vào chiều ngày thứ nhất của một tuần lễ, ngày tụ họp của các Kitô hữu đầu tiên, thời gian ưu tiên cho sự hiện diện của Chúa Phục sinh giữa cộng đồng mà Người triệu tập để chia sẻ cho họ Lời và Bánh và sai họ vào thế giới. Trong trình thuật này, chúng ta gặp ba thời điểm đặc biệt của tiến trình Vượt qua: 1 - Đấng phục sinh chủ động đến. 2- Nhận ra Đức Giêsu đang sống sau khi biết rõ người đã chết. 3- Tiếp nhận sứ mệnh của Đấng Phục sinh. 1/ Đấng Phục sinh chủ động đến. Các môn đệ tụ họp trong một căn phòng đóng kín cửa. Họ sợ người Do Thái, đúng hơn, sợ các vị chức sắc trong giáo quyền Giêrusalem. Với chi tiết này, có lẽ tác giả muốn các độc giả Tin Mừng của mình liên tưởng đến các cuộc bách hại mà tới lúc này đã lan rộng. Bị trục xuất khỏi hội đường vì dám tin nhận Chúa Giêsu là Đức Kitô (người mù bẩm sinh bị đuổi khỏi hội đường: Ga 9.34). Họ như dần dần được chỉ dẫn đức tụ họp ở một nói riêng tránh sự dòm ngó của những kẻ bách hại họ. Họ tụ tập. Đức Giêsu đến trước mặt họ. Lời đầu tiên Người nói là lời cầu chúc bình an: Bình an cho anh em (Shalom). Không chỉ là lời chào xã giao, nhưng là một xác nhận ân huệ phát sinh: vui mừng, bình an. 2/ Nhận ra Đức Giêsu đang sống sau khi biết rõ người đã chết. Đức Giêsu chỉ cho họ thấy tay và cạnh sườn Ngươi (liên tưởng tới lưỡi giáo đâm: Ga 19,34). Alain Marchadour chú giải rằng: Dù thuật lại những lần hiện ra lạ lùng của Đức Giêsu, thì những vết đinh đóng và cạnh sườn bị đâm thủng chứng tỏ rằng thánh sử không muốn độc giả lầm tưởng đó là bóng ma, nghĩa là, một ai khác chứ không phải Đấng chịu đóng đinh. Đúng ra, sự hiện diện thể lý thông thường đã chấm dứt, nhưng Đấng đã hiện diện trước mặt họ đây, chính là Đức Giêsu họ biết là yêu mến, từ nay đã thăng hoa bởi sự phục sinh. Không sợ hãi nữa, các tông đồ trở nên vui mừng" ("L'evangile de Jean, Centurion". trg 246). 3/ Tiếp nhận sứ mệnh Đấng Phục sinh trao. Đấng Phục sinh hiện đến, không phải chỉ là một chuyến ngao du, nhưng còn để trao một sứ mệnh. Sai họ đi với sức mạnh của Chúa Thánh Thần. Để đem Tin Mừng ơn Tha Thứ của Thiên Chúa đến cho mọi người. 2. đến Chúa nhật sau. Lần Chúa đến chiều Chúa nhật trước, Tôma đi vắng. Nhờ đó mà có bản tường thuật thú vị Chúa nhật này. Điển hình của sự cứng lòng tin, Tôma không đón nhận điều mà các anh em kể lại; chắc gì đã là Đức Giêsu phục sinh? ông chủ trương: Phải thấy tận mắt, sờ tận tay mời đáng tin. Thế là Đức Giêsu lại đến. Cùng một cung cách tường thuật. Đức Giêsu đến khi các cửa cài chặt. Người lặp lại lời chào phục sinh: "Bình an cho anh em". người lại chỉ cho các ông thấy tay và cạnh sườn. Với Tôma, Người nhấn mạnh đến sự liên tục và đồng nhất giữa Đấng chịu đóng đinh và Đấng đang vinh hiển: "Xỏ ngón tay vào đây và nhìn cho kỹ bàn tay Thầy. Hãy thọc bàn tay vào cạnh sườn Thầy mà coi". Gerard Bessière tự hỏi: "Đến như thế thì vị Tông đồ cứng, lòng còn biết làm gì bây giờ! Người ta đã tranh luận nhiều. Các bức hoạ thường trình bàn Tôma chỉ giơ tay hướng về các vết thương nơi tay hoặc cạnh sườn Chúa. Điều quan trọng là lời: "Thôi! Đừng cứng lòng nữa, hãy tin". ("Dieu si proche", DDB, trg 53-54). Thế là Tôma tuyên xưng lòng tin. Một cách tuyên xưng đức tin độc đáo của Tân ước. Một tuyên xưng mà chúng ta nghe vang vọng nơi các kinh Tin Kính của các cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi. Chúng ta cũng tuyên xưng như thế mà. Các định tín sau này cũng không vượt qua lời tuyên xưa ấy: “Lạy Chúa tôi lạy Chúa Trời tôi ". Quang cảnh kết thúc bằng một mối phúc: "Vì con đã thấy Thầy nên con tin. Phúc thay kẻ đã không thấy mà tin”. Mối phúc sau cùng của Tin Mừng đấy. Mối phúc của người tín hữu. A. Marchadour ghi tiếp: "Đó là kết luận của toàn bộ Tin mừng, một điệp khúc của luận đề quan trọng trong Do Thái giáo: giữa thấy và tin, hình ảnh và lời thoại, hiện tượng và ngôn từ. Vế thứ hai trong các cặp luận đề vừa nêu làm nên điều kiện bình thường và lý tưởng của lòng tin. Ngay cả kẻ đã thấy thì cũng còn phải vượt qua những gì mình thấy để mà tin. Ngôi Lời, từ khi trở nên xác phàm, đã để cho các môn đệ phần xác thể, phần nhân loại. Nhưng họ phải "thấy Thiên Chúa tỏ hiện trong vinh quang”. Là những kẻ thừa hưởng Tin Mừng, chúng ta thật diễm phúc. Chúng ta không thấy. Chúng ta chỉ nhờ vào chứng từ của các Tông đồ mà gắn kết với Đức Kitô trở thành tín hữu. (Sđd, trg 248). BÀI ĐỌC THÊM: 1. Tôma, một vị tiền hô (“Célébrer", tạp chí của Trung tâm Quốc gia về mục vụ phụng vụ, số 2348, trg 18). Nhân vật có tên Tôma và sự cứng lòng tin của ông vẫn luôn gây chú ý. Cần cả một bài giảng mới đề cập đủ về nhân vật này. Xin gợi lại điều mà thánh Gioan nói về ông: nhiệt tình vô lối (11,16), hoang mang (14,5). Bản tính thế nào thì phản ứng như vậy, nên trong trường hợp này, cũng dễ thông cảm với ông. Ông là loại người muốn đi tới cùng nhưng lại không đặt tin tưởng vào một ai. Đức Giêsu chấp nhận vào cuộc (chỉ cho ông các vết thương) và đã khơi gợi nơi ông cửa ngỏ của lòng tin: đó là lòng cậy trông sâu thẳm nơi ân huệ nhưng không. Và Tôma đang trên con đường biến đổi: từ lòng tin và những lần đón Chúa xuất hiện đến niềm tin của Giáo Hội khuất dạng Đấng Phục sinh. Tại sao lại không nhận ra điều này: Tôma không phải một kẻ cản trở lòng tin. mà là vị tiền hô của lòng tin như Gioan Baotixita? Theo thánh Gioan, kẻ sau hết tin vào Đấng Phục Sinh hiện diện lại là kẻ trước tiên không còn cần thấy và chạm đến Chúa để được kêu lên "Lạy Chúa tôi, lạy Chúa Trời tôi”. Ngài dám đặt ra câu hỏi làm cớ cho chúng ta nhận được câu trả lời cứu độ của Đức Giêsu Kitô. 2. Phúc cho những ai đã không thấy mà tin. "Phúc cho những ai đã không thấy mà tin". Cần nhấn mạnh tới lời Đức Giêsu nói đây, những lời ấy hé cho thấy sự ưu tư của Đức Giêsu, của các môn đệ ghi chép Tin Mừng. Sự ưu tư của những ai không gặp Chúa khi Người đến trần gian. Họ hiểu ra rằng: tình cảnh của họ không cam go hơn tình cảnh các Tông đồ, những chứng nhân tiên khởi. Nói những lời ấy, Đức Giêsu nghĩ tới chúng ta, 20 thế kỷ sau các Tông đồ, chúng ta cũng nhận được cùng một ánh sáng rọi chiếu như các ngài. Nếu chỉ quan tâm tới không gì mắt thấy, có lẽ các Tông đồ diễm phúc hơn chúng ta, nhưng nếu xác tín rằng Đức Tin là một ân huệ của Thiên Chúa, thì chúng ta cũng được xếp vào cùng hàng ngũ với các Tông đồ là những kẻ cũng phải có cùng một xác tín. Cùng với các vị đặt nền móng cho Giáo Hội, chúng ta dâng lên Chúa lời cảm tạ vì ân huệ đã nhận.được. Năng lực chúng ta có cũng sẽ tương xứng như thế. Đến lượt mình, chúng ta cũng có thể là những người đặt nền móng cho các Giáo Hội đang được thành lập vào lúc khởi đầu của thiên niên kỷ mới này. Giáo Hội thuộc mọi thời đều qui tụ trong ân huệ duy nhất của Chúa, trong niềm vui duy nhất của Chúa. Như tôm, sự chậm tin của chúng ta sẽ giúp chúng ta cảm thông và hiểu biết sâu xa đối với những tất cả những ai chưa được đón nhận ân huệ đó. |