| Chúa nhật XXIII thường niên - Năm B |
| CHỮA LÀNH MỘT NGƯỜI CÂM ĐIẾC |
| Chú giải của William Barclay |
Để tiếp tục cuộc du hành rao giảng, Chúa Giêsu đã chuyển hướng đi. Ngài băng từ mạn tây hồ Tibêria (Tia, Siđon tức vùng Liban hiện nay) sang mạn đông tức vùng Thập Tỉnh (xứ Giođan) (c. 31). Ngài rảo khắp vùng đất dân ngoại để thi hành sứ mệnh của mình. Vừa mới chữa lành đứa con gái người phụ nữ dân ngoại, giờ đây Ngài lại ban phát hồng ân cho một người dân ngoại khác (c. 32). Maccô là tác giả duy nhất trong bốn tác giả Phúc Âm tường thuật lại việc chữa lành người câm điếc này. Tuy nhiên trình thuật này chứa đựng một khía cạnh khá lạ cần phải làm sáng tỏ. Người ta xin Chúa Giêsu đặt tay lên người bệnh để chúc lành nhưng Chúa Giêsu lại không làm thế; Ngài kéo người bệnh riêng ra và bắt đầu chạm đến các cơ quan cần được chữa lành. Ngài đặt ngón tay vào lỗ tai và bôi nước bọt vào lưỡi người bệnh (c. 33). Với quan niệm vệ sinh hiện nay thì cử chỉ này xem ra làm chúng ta khó chịu. Tuy nhiên chẳng qua là Chúa Giêsu vay mượn một số thói quen y học của thời Ngài: đó là chạm tay vào cơ quan hư hỏng đồng thời sử dụng nước bọt, thứ nước được xem như nguồn sống kề cận với lời nói của con người để bôi vào lưỡi. Thái độ cầu nguyện tiếng Ngài thở dài (biểu thị phải làm một việc khó khăn) và lời Ngài thốt ra bằng tiếng Aram: “Hãy mở ra”, là những chi tiết lịch sử quý báu của lần chữa bệnh này (c. 34). Đang ở giữa vùng lãnh thổ dân ngoại nên Chúa Giêsu đã thích ứng với lối chữa bệnh của môi trường và thời buổi lúc đó. Loại chữa bệnh này được tìm thấy đầy dẫy trong các trình thuật về phép lạ nơi vùng đất dân ngoại thời đó nên nó chẳng làm ngỡ ngàng các độc giả đầu tiên của Phúc Âm Maccô là những người hiểu biết các tập tục của những người đương thời với họ. Cử chỉ và lời nói của Chúa Giêsu lập tức phát sinh hiệu quả (c. 35). Bệnh nhân câm điếc bắt đầu nghe và nói dễ dàng. Lẽ ra sau khi đạt được mục đích, trình thuật có thể chấm dứt ở đây. Tuy nhiên lần nữa tác giả lại đề cập đến bí mật Đấng Mêsia (c. 36a). như trước kia Chúa Giêsu đã truyền cho người phung cùi (1,44) và gia đình cô bé bị bệnh chết (5,43) phải giữ kín thì lần này Ngài cũng truyền cho thân nhân người bệnh không được tiết lộ với ai. Trong tất cả các trường hợp này, Đấng Mêsia đã biểu lộ quyền năng Nước Thiên Chúa nơi bản thân Ngài. Tuy nhiên Ngài không muốn công bố sứ mệnh Mêsia trước hạn định, bởi vì người ta có thể lẫn lộn về tư cách “Mêsia” của Ngài, tước hiệu và Ngài chỉ nhận được một cách thoả đáng, đầy ý thức qua miệng lưỡi Phêrô tuyên xưng nhân danh các môn đệ (8,30). Và tước hiệu ấy sẽ chỉ nhận được ý nghĩa trọn vẹn qua cuộc tử nạn và Phục Sinh của Ngài. Tuy vậy, ngay lúc này đây, Maccô lại cho thấy rõ là lệnh Chúa Giêsu truyền giữ im lặng đã bị người ta cố tình vi phạm (c. 36b). sở dĩ như thế là vì trong khi Maccô ghi laị trình thuật này, Tin Mừng Chúa Kitô Cứu Thế đã loan ra đến tận các vùng dân ngoại, đến tận cả Rôma! Giờ đây quả thực tốt đẹp biết bao vì Tin Mừng ấy đã được “công bố” ở giữa lòng thế giới. Cuối cùng, chúng ta thấy Maccô còn muốn trình bày ở đây đám quần chúng dân ngoại của Chúa Giêsu phải ứng bằng một lời tuyên xưng đức tin rất mãnh liệt (c. 37). Người ta dùng những lời của tiên tri Isaia để chúc tụng Chúa Giêsu (Is 35,5- 6): “Ngài làm kẻ điếc nghe được, kẻ câm nói được”. Đó là đích điểm của trình thuật được Maccô chủ ý dàn xếp. Trong “Chương nói về bánh” (từ 6,30) Maccô không bỏ qua chủ đề chính liên quan tới sự chậm hiểu của những kẻ theo Chúa Giêsu, tức các môn đệ Ngài. Các tông đồ vẫn không nhận ra ý nghĩa của các dấu chỉ Thầy họ thực hiện. Ở đây, họ chẳng được Maccô nêu tên: họ có vẻ như bị “vắng mặt” đang khi thực ra họ vẫn ở bên cạnh Chúa Giêsu trong sứ vụ truyền giáo cho dân ngoại (x. 8,1 và tiếp theo). Như thế, người ta có quyền nghĩ rằng đoạn Phúc Âm trên đây trực tiếp nhằm vào họ. Họ là những kẻ vẫn khăng khăng câm điếc trước sứ điệp của Thầy mình mặc dù chính họ là những kẻ đầu tiên nhận được lời kêu gọi mạnh bạo của Ngài: “Hãy mở ra!” (c. 34b). Chúa Giêsu thực sự mời gọi bạn hữu Ngài – kể cả Maccô cũng như các độc giả của ông- mở lòng đón nhận Tin Mừng và hành động của Đấng Cứu Thế đồng thời can đảm đem “công bố” lời giảng và hành động ấy cho thế gian. |