Chúa Nhật Phục Sinh - Năm A

Lm.Fr. Jude Siciliano, OP

TÌNH YÊU PHỤC SINH

 Thưa quý vị.

Bởi lẽ lịch giảng phòng mùa Chay quá bận rộn, cho nên tôi phải viết bài diễn giải này tuần thứ nhất mùa hãm mình, đền tội. Tôi thật ngỡ ngàng, cảm thấy mình lạc điệu. Lúc này chẳng phải là thời gian thuận tiện để nói về niềm vui Phục sinh. Hầu hết chúng ta, các tín hữu chuẩn mực, đọc các trình thuật thương khó vào giờ này. Mùa Phục sinh, các trình thuật sống lại. Chỉ một mình tôi là ra ngoài lệ thường, cho nên tôi phải suy tư trái mùa, dĩ nhiên có ảnh hưởng đến ý nghĩa câu chuyện.

Ðiểm thứ nhất tôi lưu tâm đến là câu chuyện không hề miêu tả chi về cuộc gặp gỡ với Chúa Phục Sinh như các trình thuật Phúc âm khác. Vì thế câu chuyện xem ra rất thật. Nó kể lại mọi sự khá bình thường như tôi hằng kinh nghiệm ngày này qua ngày khác. Tôi chưa hề xem thấy Chúa Kitô Phục Sinh trong đời sống thường nhật của tôi. Mà cũng chẳng hề xem thấy một ai khác từ cõi chết sống lại. Ðây là đầu mùa Chay, nhu cầu của tôi bây giờ là Thiên Chúa. Tôi phải vật lộn thường xuyên chống lại tội lỗi, đam mê, cám dỗ, các khuynh hướng xấu xa để có thể sống nghiêm chỉnh như một tín hữu tốt. Ðiều đó cho tôi cảm giác mọi sự bình thường, đâu có chi lạ ? Niềm vui, niềm hoan hỉ Phục Sinh còn quá xa vời, mãi tận đâu phía sau của trí óc. Từ tuần lễ đầu tiên của mùa Chay mà nhìn Phục Sinh thì quả là lạc lõng. Thấy đấy, nhưng chẳng cảm nhận được gì !

Tôi lại phải nhìn vào bản văn Phục Sinh để tìm xem có điều chi khác thường ? Vẫn cái giọng văn kể chuyện đều đều, không có biến cố nào hùng vĩ với kèn đồng, trống phách, chẳng có ai hô lớn : "Ngài đã trỗi dậy !" Nói cho công bằng thì cũng có một vài chi tiết nhỏ, rất nhỏ báo hiệu điều gì bất thường đã xảy ra. Tuy rất nhỏ, nhưng nó có thể gây ngạc nhiên, thắc mắc cho người môn đệ nào buồn sầu, thất vọng nhất. Mãi sau này chúng ta mới biết rằng cô Maria Mađala đã được gặp Chúa Phục Sinh và Chúa truyền cho cô phải đi nói với các môn đệ Ngài, lúc này thì chưa, ngoài chi tiết quan trọng nói trên thôi.

Cơ sự như thế này : Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, khi trời còn tối, Maria Mađala ra thăm mồ, nơi để xác Chúa Giêsu. Chủ đích của bà là xức thuốc thơm. Khi tới nơi bà thấy ngôi mộ trống, không thấy xác Chúa đâu. Lập tức bà trở về báo cáo cho ông Simon Phêrô và các môn đệ khác hay. Bà thêm "người ta đã lấy xác Thầy khỏi mộ, và chúng tôi không biết người ta để Thầy ở đâu". Ngỡ ngàng, Phêrô và người môn đệ kia chạy ra mộ. Chẳng ai có tư tưởng Chúa đã sống lại. Họ chỉ nghĩ rằng thêm vào cái chết nhục nhã, người ta còn tiếp tục xúc phạm đến thân xác Chúa. Một sự sỉ nhục khác nữa. Thật là cay đắng ! Nhưng khi tới mộ họ nhận ra ngôi mộ không phải hoàn toàn trống : Khăn liệm và dây băng còn đó, xếp gọn gàng để vào một nơi. Lạ lùng. Ăn trộm chi mà lại lột đồ mai táng để lại, mang thân xác đi không. Có lẽ là một thứ ăn trộm "ấm" đầu ! Lại còn xếp dây băng và vải liệm gọn gàng mỗi thứ một nơi, phạm tội ác mà lại còn có biểu hiện lịch sự con nhà tử tế ? Các Tông đồ chẳng nghĩ đến sự Phục Sinh của Chúa. Bởi xưa nay chưa từng xảy ra một trường hợp nào cả trong cõi nhân gian. Nhưng quang cảnh vô lý ở trước mắt, đòi hỏi họ phải suy nghĩ. Gioan đã suy nghĩ và đã đưa ra một câu giải thích, mà cũng là một ánh sáng bởi trời : "Theo Thánh kinh, thì Người phải sống lại từ cõi chết". Ông đã thấy và ông đã tin. Quang cảnh trước mắt ông là dấu hiệu của một cuộc sống mới. Cuộc sống Phục Sinh!

Tuy nhiên Phục Sinh không phải là một tiến trình tự nhiên tỷ như cây tàn mùa Ðông, rồi lại đâm chồi mùa Xuân. Nó không phải là biến cố hợp logic của thiên nhiên. Chết là chết. Một thân xác đã chết chẳng có hạt giống nào để cho nó nẩy mầm sống lại - ít là tự thân. Xưa nay vẫn thế. Chết là mục rữa, thối tha vĩnh viễn dù người ta có bôi môi son, má phấn, ướp xác, lập mồ cho thân nhân, cũng chẳng hy vọng có ai sống lại. Bên cạnh nấm mồ, hay trong nhà tang gia, Thần chết vẫn là kẻ chiến thắng dứt khoát - Cuối cùng thì mọi người phải đặt hoa lên mộ và trở về cay đắng, nhớ nhung thân nhân đã qua đời. Nhiều lắm thì cúng bái hay cầu kinh mà thôi.

Nhưng tại sao Phêrô lại chậm trễ hơn "người môn đệ kia" ? Có khuynh hướng giải thích rằng ông già hơn nên chạy chậm hơn. Ðiều đó có lý. Nhưng ông ta chưa chắc đã đến ba mươi tuổi. Ông mới có mỗi đứa con gái nhỏ và bà mẹ vợ còn nhanh nhẩu phục vụ Chúa Giêsu ! Có thể rằng kỷ niệm về tội cũ chối Chúa làm khựng chân ông. Dù thế nào đi nữa nó vẫn còn nặng nề trong trí óc ông, lương tâm ông. Ông chẳng có thể chạy nhanh được. Gioan nhẹ nhàng hơn, nên chạy nhanh hơn. Ðó là một kinh nghiệm, một bài học chung cho chúng ta ! Nếu chúng ta muốn được nhạy cảm trong tình yêu Thiên Chúa. Trong sạch thì vẫn tốt, vẫn quý hơn phạm tội rồi xin Chúa thứ tha. Nhưng thái độ thứ hai xưa nay phổ thông hơn ! Tức thái độ của Phêrô. Bất hạnh thay cho nhân loại !

Sau khi gặp Chúa sống lại, Phêrô sẽ hoàn toàn thay đổi. Việc đó không xa lắm. Ánh sáng của Chúa Phục Sinh sẽ biến đổi Phêrô. Ông vui mừng đón nhận sự tha thứ của Ngài, và nồng nàn yêu mến Ngài hơn. "Lạy Thầy, Thầy biết con yêu mến Thầy" (Ga 21,15). Ông cảm thấy không xứng đáng. Nhưng Chúa đã đặt ông làm thủ lãnh các Tông đồ, dẫn dắt Giáo Hội qua mọi thử thách khó khăn, bởi ông đã có kinh nghiệm về sự yếu đuối của mình, cho nên mọi thành công là phải trông cậy vào Chúa. Phêrô đã biết rõ điều ấy. Ông đã vượt được quá khứ của mình mà can trường đi theo Chúa Phục sinh. Chúng ta cũng vậy, chúng ta cũng có thể bỏ lại quá khứ đàng sau, nếu như tâm hồn chúng ta trong sạch mà đón nhận Chúa sống lại ngự vào lòng. Bằng không mọi nghi lễ đều vô ích, chỉ thêm bôi bác. Hãy nhìn vào những ngôi mộ trống của quá khứ và nhận ra Chúa đã sống lại. Chúng ta còn hạnh phúc hơn Phêrô ở giai đoạn này của câu chuyện, bởi lẽ đối với ông ta, câu chuyện còn bấp bênh, chưa sáng tỏ. Còn chúng ta đã có tới hơn hai ngàn năm danh Chúa được rao truyền. Chúng ta thực sự đã "nhìn" thấy Chúa sống lại trong lịch sử Giáo Hội và trong cuộc đời các thánh. Chúng ta có sẵn lòng chấp nhận sự tha thứ của Ngài ? Trung kiên với Ngài và quên đi lỗi lầm của kẻ khác ?

Về phần người "môn đệ kia" được Chúa yêu mến. Ông có một kinh nghiệm khác về Chúa Giêsu. Tên của ông nói lên tính chất của ông : Con của Thiên lôi (Mc 3,17), và thiên hạ biết ông nhiều qua tính cách đó. Ngày nay, cứ đọc những gì ông viết ra thì quá rõ. Ông ý thức vững chắc mình được Chúa yêu mến, điều này đã làm ông hối hả chạy ra mồ. Tình yêu thúc bách ông. Và khi Chúa đã về trời ông lãnh chức vụ "Sứ giả của tình yêu". Ở ngôi mộ trống ông chẳng cần bằng chứng nào cả, tình yêu đã mở mắt cho ông. Ông thấy và ông tin. Ông là người tín hữu đầu tiên trong Hội Thánh về sự kiện Chúa sống lại. Như vậy ông khích lệ chúng ta nhìn vào những mộ chết của quá khứ, mà nhận ra khả năng một cuộc sống mới. Cuộc sống phục sinh. Biết rằng mình luôn được Chúa xót thương. Chúng ta tin cậy vào tình yêu Ngài, vào cuộc sống mai sau.

Lúc này, bài đọc Tin Mừng khơi dậy trong tâm hồn chúng ta những tình cảm phấn khởi, thiêng liêng. Chúng ta cũng là những "môn đệ khác" được Chúa yêu mến, cứu chuộc. Tình yêu của Ngài thật no tròn, phong phú và chữa lành. Chúng ta chẳng xứng đáng, chẳng có công lênh gì trong tình yêu ấy. Nhưng Chúa Phục Sinh vẫn tưới gội trên mỗi người chúng ta, trong cộng đoàn này ! Vậy thì, trở lại từ ngôi mộ trống rỗng của Ngài, chúng ta phải suy nghĩ nên sống thế nào cho xứng người môn đệ Chúa ? Yêu thương thế nào cho tốt đẹp hơn ? Biết chắc là những linh hồn được Chúa yêu mến, chúng ta phải luôn đặt cho mình những câu hỏi thích đáng : Tôi có hằng đón nhận tình yêu của Ngài xứng hợp không ? Tôi có dám "đánh liều" yêu thương thiên hạ như Chúa đã yêu tôi không ? Tôi có đủ can đảm "đánh đổi" cuộc đời của mình cho những kẻ nghèo khổ, lang thang, xì ke, ma túy, đĩ điếm, rượu chè… như Chúa dám thực hiện trong tuần thương khó vừa qua vì tôi không ? Văn Minh tình thương sẽ chỉ được nảy sinh từ những quyết định lành thánh đó. Xin Chúa Kitô Phục Sinh bảo trợ cho chúng ta thành công để nhân loại có thể được nhìn thấy ơn sống lại. Amen. Alleluia.

HALLELUIA !!!

Niềm vui chỉ là mấy phút phù du hay là điểm quan trọng làm nên cuộc đời ? Ðức Giêsu sẽ mạc khải cao điểm cuộc đời chính là niềm vui, chứ không phải đau khổ trong thân phận con người. 


Last Updated: 09/12/2012