Chúa Nhật III PS - Năm A

Lm. Fr. Jude Siciliano, OP

XIN NGÀI Ở LẠI VỚI CHÚNG TÔI
Lc 24,13-35

Thưa quý vị.

Giáo hội phải trường kỳ đấu tranh với các thế lực tối tăm để sống còn. Các thế lực đến từ phía trong và phía ngoài Giáo hội luôn tìm mọi cơ hội để tiêu diệt niềm tin của các tín hữu. Trong giai đoạn hiện tại ngày nay có lẽ thế lực đen tối nhất là thái độ coi Hội thánh như một cơ cấu ngây thơ, lỗi thời, cổ hủ, chậm tiến, sơ cứng, không theo kịp trào lưu văn minh của con người hiện đại. Thêm vào đó là những gương xấu của hàng giáo sĩ. Những gương xấu này về lâu về dài làm xói mòn lòng đạo đức của những tâm hồn vô tội và những gia đình ngay thật. Thời thánh Luca cũng có những thế lực như vậy, nhưng dưới hình thức khác. Cộng đoàn của ngài cũng đã phải vật lộn với các phần tử cực đoan. Ða phần họ là những tín hữu gốc Do thái, đòi hỏi phải tuân theo các luật lệ nghiêm ngặt của giao ước cũ. Lý luận của họ như sau: Hội Thánh là dân tộc Israel mới, nhiệt thành, do đó mọi lề thói cũ phải được tôn trọng bất luận là ai, kể cả những tín hữu gốc dân ngoại, nếu muốn được coi là trung thật với Thiên Chúa, Ðấng đã trao lề luật cho Moisen, để dân được cứu độ. Dân tộc canh tân là ở chỗ trung thành tuyệt đối với lề luật của cha ông. Cuộc tranh luận này gây ra chia rẽ trầm trọng trong Giáo hội còn quá non trẻ.

Thái độ thù nghịch từ phía ngoài Giáo hội, như thánh Luca viết ở Antiokia, là dân xứ Syria. Tôn giáo của họ là đa thần. Không có ý niệm gì về ơn cứu chuộc, sống lại và sự sống đời sau. Do đó, họ coi niềm tin của Kitô giáo là huyền hoặc. Lại còn những lãnh đạo tôn giáo Do thái cực lực chống lại Chúa Giêsu như ứng nghiệm Thiên sai của các lời hứa tiên tri. Như thế rõ ràng có nhiều ý kiến trái ngược nhau trong Giáo hội mới được thành lập. Thực ra đa phần các tín hữu coi mình là một giáo phái cải cách trong giáo hội chung của dân tộc Do thái, chứ không phải là một tôn giáo hoàn toàn tách biệt khỏi Do thái giáo. Họ vẫn lên đền thờ cầu nguyện theo thói tục chung (Cv 2,46), tuân giữ các lề luật Do thái giáo. Mãi sau này, sự thoát ly dứt khoát mới xảy ra (Cv 15,23). Cái giáo hội non trẻ này (nếu ta được phép gọi như thế) cảm thấy mỏng manh biết bao khi phải đối mặt với những áp lực nội, ngoại luôn gây căng thẳng để tiêu diệt nó ? Chắc hẳn thánh Luca đã có những tư tưởng như vậy khi ngài viết Phúc âm thứ 3. Trong trình thuật Chúa Nhật hôm nay, thánh nhân đã vô tình bày tỏ cảm tưởng của mình qua hai môn đệ đi thành Emmaus và ngày nay cũng là lời cầu khẩn của Hội thánh : “Xin Ngài ở lại với chúng tôi, vì trời đã xế chiều, và ngày sắp tàn” (Lc 24,29). Dịch sát nguyên bản thì : “Trời đã xẩm tối”. Câu sau này gợi ý một điều chi tối tăm hơn là thời khắc của một ngày. Và thánh Luca muốn bày tỏ những nỗi khó khăn của cộng đoàn ngài và của từng cá nhân, van xin Chúa Giêsu trợ giúp trên con đường lữ hành trần gian! Nói một cách tổng quát, mỗi khi gặp gian nan thử thách, tình cảnh trở nên buồn thảm, Tin Mừng phục sinh vẫn chỉ là lời đồn đại, thì thánh Luca dùng câu nói đó để khích lệ chúng ta đi gặp Chúa sống lại trong lời Ngài và các bí tích.

Nên để ý đến kiểu cách Thánh Luca thuật truyện. Cái chi đã ngăn cản hai môn đệ nhận ra Chúa Giêsu? Bản văn xem ra muốn nói đến một ngoại lực khách quan : “Mắt họ bị che phủ không nhận ra Ngài”. Ngoại lực thực sự đôi khi đã làm cho chúng ta không nhìn thấy Chúa sống lại. Ðây cũng là một lối nói khác của Kinh Thánh, chỉ rằng họ thiếu đức tin. Họ không nhận ra Ngài vì họ mù về đàng thiêng liêng, chẳng nhìn ra những sự việc Kinh Thánh đã từng đề cập tới. Chúng ta cũng vậy. Khi Thiên Chúa cất người thân về, khi phải thay đổi mục tiêu đã định, khi tuổi già ập tới, khi sự chết đã gần, chúng ta cũng cảm thấy như bị bỏ rơi, cô đơn trên đường đời, Chúa sống lại chỉ là tin đồn mơ hồ, là truyện ma quái do nhu cầu tưởng tượng vẽ ra chứ chẳng phải là một nhân vật thực sự sánh bước với chúng ta trên dương gian đầy khổ ải ! Lúc ấy chúng ta cần đọc lại câu chuyện của Luca !

Một vấn đề khác của trình thuật Tin Mừng hôm nay. Ðó là nó có những dòng mở đầu gần như công thức: Các môn đồ bất chợt nhận ra Chúa sống lại. Họ rất đỗi ngạc nhiên! Chúng ta chẳng thể đổ lỗi cho họ. Chúa phục sinh có những tính cách rất khác đời thường trong các câu chuyện sống lại. Maria Macđala đâu có tức khắc nhận ra Chúa? Bà chỉ nhận ra bác làm vườn! Các môn đệ chỉ nhận ra Chúa sau mẻ lưới lạ lùng còn trước đó chỉ là người đàn ông đứng trên bờ (Ga 21,4). Các môn đệ đi làng Emmaus cũng vậy. Thêm vào đó, những chi tiết của truyện sống lại cũng tỏ ra lộn xộn: Ở ngôi mộ trống là người làm vườn hay hai Thiên thần? Chúa Giêsu hiện ra với các Tông đồ ở đâu ? Galilêa hay Giêrusalem? Có tác giả dựa vào những chi tiết này mà nói rằng, câu chuyện phục sinh không có thật, nó chỉ là những hư cấu. Nhưng các chứng nhân tiên khởi chẳng phải là những kẻ câm, không biết nói lên sự thật. Họ cũng dễ dàng khám phá ra các chi tiết khác biệt như chúng ta. Không phải chúng ta tỉnh táo hơn họ. Các nhà chú giải Thánh Kinh có ý kiến rằng những trình thuật sống lại được truyền miệng từ thế hệ này sang thế hệ khác trước khi được viết trên giấy tờ, do đó tam sao thất bản là chuyện thường tình. Ðiều này có thể chấp nhận được. Các cộng đoàn tín hữu đầu tiên quan tâm không phải chi tiết, mà là kinh nghiệm sống về Chúa phục sinh. Cho nên chi tiết có thể khác nhau. Giống nhau y hệt lại có tính giả tạo, bởi không phải là kinh nghiệm của nhiều người đã được chứng kiến, mà chỉ một người. Người đó có thể bịa đặt. Ðiều mà Giáo hội tiên khởi cần nhớ và cần có, để nuôi dưỡng lòng tin của mình là tính thuyết phục của những chứng nhân chân chất, đã từng xem thấy, nghe thấy, nói với và chia sẻ các bữa ăn với Chúa phục sinh. Những câu chuyện của họ được ghi lại cho lợi ích chúng ta, như tuần trước thánh Gioan đã viết : “Còn những điều đã được chép ở đây là để anh em tin rằng Ðức Giêsu là Ðấng Kitô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sống nhờ Danh Người” (Ga 20,13).

Sau cuộc tử nạn đẫm máu của lãnh tụ Giêsu, hai môn đệ thất vọng rời Giêrusalem để trở về Emmaus, chắc chắn họ đã nghe tin về ngôi mộ trống do mấy phụ nữ và Phêrô kể lại. Nhưng ý kiến chung thì cho đó là chuyện vớ vẩn, chưa đủ bằng chứng để tin (Lc 24,11). Trên đường họ gặp một khách lạ, có lẽ cũng là khách hành hương lễ Vượt qua trở về. Họ chẳng thể nhận ra Chúa Giêsu. Ngài đã hoàn toàn thay đổi diện mạo. Các trình thuật phục sinh khác cũng có hiện tượng tương tự. Những ai đã từng quen biết Ngài trước kia bây giờ chẳng thể nhận ra Ngài theo lối cũ được nữa. Con mắt trần xác thịt, con mắt hợp logic loài người bây giờ bị che phủ. Phải nhìn bằng con mắt khác, bởi Ngài đã thay đổi. Ngài là vị thần linh mầu nhiệm trỗi dậy từ cõi chết. Không phải bất cứ ai cũng có thể nhìn ra, mà chỉ những người được ơn riêng, được thần khí Ngài soi sáng và cho phép. Ngài làm chuyện này qua việc mở trí cho hai môn đệ hiểu Kinh Thánh và bữa ăn Thánh Thể.

Ðó phải là kinh nghiệm của chúng ta, các tín hữu sống sau biến cố Phục sinh đã hơn 2000 năm. Chúng ta phải học hỏi Thánh Kinh và tham dự các bí tích để có thể nhận ra Ngài trong cuộc sống đời thường. Chẳng cần nói quý vị nào có kinh nghiệm phục vụ lời Chúa đều nhận thấy như vậy. Ở trong các giáo xứ, những nhóm học hỏi Thánh Kinh nghiêm chỉnh đều đã vượt qua được các tối tăm, thử thách và nhìn thấy Chúa sống lại qua những nỗ lực học hỏi và cầu nguyện của mình. Nhiều người khác có lẽ còn phải mò mẫm tìm ra con đường phải đi để gặp được Chúa phục sinh. Ước vọng của họ sẽ được Chúa thương đáp ứng. Ðể rồi tất cả đều có thể tự nhủ mình : “Dọc đường, khi người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao ?”.

Giây phút mở mắt là phút giây bẻ bánh đối với hai môn đệ đi làng Emmaus. Thánh Luca đã mô tả hành động này của Chúa Giêsu tương tự như khi Ngài nhân bánh lên nhiều (9,16) hoặc trong bữa Tiệc ly (22,19). Ngài cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, bẻ ra, trao cho hai ông. Các ông nhận ra cử chỉ quen thuộc, nhờ đó nhận ra Ngài. Tinh thần của mỗi người ở trong phong thái của họ. Tinh thần của Chúa Giêsu ở trong cử chỉ bẻ bánh của Ngài. Ngài chia sẻ với họ tấm bánh, tức cuộc đời của Ngài, thân xác Ngài như Ngài đã tuyên bố trong bữa tiệc ly. Mỗi khi chúng ta chia sẻ với ai của cải, tình cảm là chúng ta đi vào bữa Agapê của tình yêu, lòng bác ái và nhờ đó, chúng ta nhận ra Chúa hiện diện. Cha mẹ chia sẻ cuộc sống với con cái, vợ chồng chia sẻ tình yêu với nhau, hàng xóm láng giềng chia sẻ tình nhân ái, giàu có chia sẻ của cải với kẻ nghèo khó, người công dân chia sẻ tự do với hạng tù đày… đều có thể nhận ra Chúa phục sinh hiện diện. Trái tim mọi người đều bừng cháy khi hành động như Ngài, và cảm nghiệm được những đau khổ của Ngài ở Giêrusalem ý nghĩa ra sao! Chúa đã dùng Thánh Kinh để mở mắt cho hai môn đệ đi làng Emmaus. Ngài cũng dùng Kinh Thánh để mở linh hồn chúng ta hôm nay đón nhận ơn phục sinh. Amen. Alleluia.


Last Updated: 03/31/2008