Khi ma qủi cám dỗ thách thức Chúa biến đá thành bánh mà ăn, Chúa liền trích lời sách Đệ nhị luật mà quở trách nó: Người ta không sống bởi bánh mà thôi, nhưng còn bằng lời do miệng Thiên Chúa phán ra (Mt 4:4). Lời Chúa trong Thánh kinh đã trở thành lẽ sống cho người Do thái cả bao nhiêu ngàn năm, ngay cả trước khi Chúa cứu thế giáng trần. Họ đặt tin tưởng vào lời Chúa, lời Chúa hứa qua tổ phụ Ap-ra-ham, và qua các tiên tri đại khái như sau: Chúa là Thiên Chúa của họ, Đấng sẽ bảo vệ họ, săn sóc họ và đưa họ về đất hứa. Người tin lành cũng sống bằng lời Chúa, lời Chúa giữ vững niềm tin của họ, là ánh sáng và là niềm hi vọng của họ. Đối với người công giáo, ngoài lời Chúa là lời hằng sống, là của ăn thiêng liêng, ta còn có mình thánh Chúa là bắnh hằng sống.
Phúc âm hôm nay mời gọi dân chúng tin vào bánh hằng sống. Chúa biết lời người giảng dạy về bánh hằng sống làm dân chúng vấp phạm. Ngay cả các tông đồ cũng cảm thấy chói tai, khi Chúa giảng dạy về của ăn thiêng liêng là thịt máu người. Và họ thắc mắc làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được ? (Ga 6 : 52). Tuy nhiên Chúa không rút lại lời Người giảng dạy. Chúa cũng không mơn trớn các tông đồ khi họ nghi ngời về lời Người giảng dạy. Chúa không thay đổi lời Người giảng dạy, không làm cho những đòi hỏi của Phúc âm trở nên dễ dãi để hi vọng bắt được mẻ cá lớn, nghĩa là thu hút được nhiều người theo. Lời giảng dạy của Chúa là lời xác tín. Và bởi vì Chúa xác tín về lời Người giảng dạy, nên Chúa không thoả hiệp theo quan niệm và ước muốn của quần chúng. Mặc dù Chúa bị mất khách, nhưng Người vẫn nói sự thật : Thịt Ta là thật của ăn, và máu Ta là thật của uống (Ga 6:55).
Nếu người Do thái tranh luận với nhau làm sao ông Giê-su có thể ban cho họ thịt máu Người làm của ăn thiêng liêng, thì trải qua suốt dòng lịch sử Ki-tô giáo, người ta cũng tranh luận tương tự như vậy về sự hiện diện của Chúa trong Bí tích Thánh thể. Từ khi Lu-tê-rô tách rời khỏi Giáo hội công giáo và thiết lập giáo phái riêng, thì từ đó cả hàng trăm giáo phái Ki-tô giáo xuất hiện. Đa số các giáo phái Ki-tô giáo ngày nay chỉ nhấn mạnh đến việc giảng lời Chúa, mà không có mình thánh Chúa. Một số giáo phái Ki-tô giáo khác, ngoài phần rao giảng lời Chúa, còn có nghi thức tưởng nhớ bữa tiệc ly của Chúa và các môn đệ, được cử hành tương tự như thánh lễ công giáo. Tuy nhiên học chỉ coi việc bẻ bánh như một kỷ niệm, một hình bóng biểu hiệu sự hiện diện của Chúa mà thôi, chứ không coi đó thực sự là mình thánh Chúa.
Ngày nay có những người công giáo bị ảnh hưởng bởi các giáo phái khác, có khuynh hướng nhấn mạnh đến việc đọc lời Chúa, họp nhau chia sẻ lời Chúa, mà không quan tâm đến việc đi dự lễ để được rước Mình Thánh Chúa. Đối với người công giáo, lời Chúa và Mình thánh Chúa đều là lương thực thiêng liêng. Đọc lời Chúa và suy gẫm lời Chúa mà không đi dự lễ để được kết hiệp với Chúa trong bí tích Thánh thể thì không còn cái căn tính của người công giáo. Cha ông ta thường nói ‘quen quá hoá nhàm’, nghĩa là người ta không quí trọng cái mà ngưòi ta có trong tay. Chỉ khi nào ngưòi ta mất đi, người ta mới cảm thấy luyến tiếc. Giả sử trong một thời gian khá lâu vắng bóng linh mục và không có thánh lễ, người ta mới đánh giá đuợc cái tầm quan trọng của thánh lễ.
Đức tin của người công giáo về bánh hằng sống khác hẳn với người tin lành. Người công giáo tin có Chúa hiện diện thực sự trong bí tích Thánh thể, và tin việc rước lễ là rước mình thánh Chúa. Vì nếu ta tin Chúa có quyền phép và làm phép lạ, ta cũng tin Chúa có thể biến đổi bánh rượu thành mình máu thánh Người, mặc dù hình thái bên ngoài vẫn giống bánh rượu. Nếu ta tin Chúa có quyền thế, ta cũng tin Chúa trao quyền cho linh mục, để truyền cho bánh rượu trở thành mình máu thánh Người.
NS Dân Chúa Mỹ Châu |