"Xem quả thì biết cây". Chúa Giêsu khi xuống thế, Người không phải chỉ giảng dạy mà còn minh chứng sứ mệnh thiên sai của Người bằng việc làm, bằng cả cuộc sống của Người. Cứng đầu, bướng bỉnh như dân Do thái, mà rốt cùng cũng phải bảo nhau: "Chưa ai nói được như ông này ! " Và họ kháo láo trong thán phục : "Ông là một tiên tri cả... Ông là Môisen hay Êlia xuất hiện", rồi họ kết luận : "Thật Ngài là Đấng Tiên tri phải đến trong thế gian " ( Yn 6,14 ). Chúa Giêsu là Đấng phải đến, ý lực này thúc đẩy chúng ta suốt đời tìm hiểu Ngài và làm cho mọi người biết Ngài là ai.
Chúa Giêsu là ai ? Không thể trong một vài trang giấy hay một vài khắc đồng hồ diễn tả hết được bức chân dung của Chúa. Đời sống của Chúa bề ngoài rất ngắn ngủi: Sinh ra ở Bêlem, một thị xã nhỏ bé thuộc sứ Giuđa, sống qua tuổi trẻ tại Nazareth, một làng nhỏ ở Galilê, xuất thân giảng đạo vào lúc 30 tuổi, làm những việc lạ lùng chưa từng thấy. Rồi, lúc ai nấy ngóng trông Người sẽ lập quốc, xưng vương, thì Người lại bị bắt, bị đánh, bị kết án, bị đóng trên thập giá dưới thời Phôngxiô Philatô trấn thủ xứ Giuđa. Đời Ngài vỏn vẹn chỉ có thế.
Nhưng, Napoléon, sau khi chinh phục gần toàn cỏi Âu châu, thất bại ở Waterloo, sống trong cảnh đày ải ở đảo Sainte-Hélène, đã viết những dòng hồi ký : "Thật là một sự kiện lạ lùng. Sau mười tám thế kỷ, Đức Giêsu Kitô vẫn còn được yêu mến. Không ai giàu có lừng danh đến đâu mà được người đời mến yêu lâu hơn chuỗi ngày sống của họ. Ngày nay có ai còn yêu César hay A lịch sơn nữa không ? Các vị ấy không còn được yêu mến nữa. Chỉ có một mình Ngài, Đức Giêsu Kitô ".
Renan, một người vô thần cũng phải thú nhận : "Hỡi Đức Kitô, Người còn sống động hơn xưa ngàn lần, Người được yêu mến ngay từ ngày Người chết còn hơn lúc Người sống nơi dương gian. Người đã trở nên hòn đá móng cho nhân loại, đến nỗi xóa bỏ tên Người khỏi thế gian này, thì nhân loại sẽ lung lay tận gốc".
Lần dở Kinh thánh, đọc những đoạn hướng về Người sẽ đến, ta thấy đó không phải là một ước vọng lờ mờ, mà là một lời hứa được tuần tự và cụ thể thực hiện. Ngay từ lúc nguyên tổ bất trung, Chúa đã tỏ lòng yêu thương tha thứ của Ngài : "Ta sẽ đặt một mối thù giữa mày và người nữ, giữa dòng dõi mày và dòng dõi người nữ. Người sẽ đạp nát đầu mày" (Kn 3,15). Từ miệng các tiên tri, lòng mong chờ vị cứu tinh tha thiết đã được diễn đạt thành lời : "Trời cao hãy đổ sương xuống và ngàn mây hãy mưa vị cứu tinh" (Is. 45,8). Hình ảnh của vị cứu tinh mỗi ngày đậm nét trong dân Do thái. Bị trăm ngàn thử thách, gian lao,dân Do thái vẫn vui lòng mong đợi và họ bảo nhau : "Hỡi những kẻ nhát đảm, đừng sợ, can đảm lên vì Thiên Chúa đến... Người đến để giải phóng chúng ta" (Is. 35,4). Thấm thía vì tủi nhục, vì thất bại, vì nô lệ, họ vẫn tiếp tục tha thiết nguyện cầu : "Lạy Chúa, con trông cậy vào Chúa và con sẽ không hổ thẹn. Ước gì kẻ thù địch con không chê cười con được, và không ai tin tưởng ở Chúa mà phải thất vọng" ( Tv. 24,1-3).
Và Người đã đến, "chúng tôi đã thấy ánh sao của Người và chúng tôi đến thờ lạy Người " (Mt. 2,2). Nhưng ngay từ đầu Người đã lâm cảnh giá rét lầm than Một họa sĩ làm chủ những bức tranh của mình, người làm vưòn chiêm ngắm hoa trái mình trồng, người chủ nhà được người nhà kính trọng, còn Người, Đấng tạo thành vũ trụ và con người, lại lâm cảnh phủ phàng: "Người ở trong thế gian và thế gian nhờ Người mà có, mà thế gian lại không biết Người, Người đến trong nhà Người mà người nhà đã không đón nhận Người " (Yn 1,10-11).
Vừa sinh ra đã phải bôn tẩu sang Ai cập, sống tha hương cho đến lúc bạo chúa chết. Về Nazareth Ngài sống trong cảnh thanh bần nghèo khó, học nghề thợ mộc của cha nuôi. Cuộc sống chỉ được tóm gọn trong mấy câu : "Người càng lớn càng khôn ngoan và đạo đức trước mặt Thiên Chúa và trước mặt con người" (Lc.2,52).
Thế rồi một ngày kia Người từ giã gia đình, lên đường làm nghĩa vụ. Cuộc sống của Người đổi hẳn : người ta thấy Người luôn cầu nguyện cùng Thiên Chúa mà Người gọi là Cha. Người thu thập một số môn đệ từ hàng ngũ những người lao động, dân chài, ít học, chất phác. Người dạy dỗ cho người ta biết Tin mừng cứu rỗi là tin một Thiên Chúa toàn năng, tạo thành vạn vật tràn đầy tình yêu thương. Người rộng lòng tha thứ cho những ai biết ăn năn thống hối và nghiêm khắc quở trách những ai manh tâm sống trong cuộc đời tội lụy. Người đem hạnh phúc an bình cho mọi người, hứa Nước Trời cho những ai kiên trì trong thử thách; yêu thương trẻ con và ôm chúng vào lòng. Chỉ một lời Người phán ra đã sưởi ấm bao tâm hồn giá lạnh : kẻ què được đi, đui được thấy, phong được sạch, chết được sống lại. Dân chúng say mê nghe Người đến quên ăn, quên ngủ. Họ quên bánh hằng ngày để bám sát lấy Người nghe Lời hằng sống. Họ kinh ngạc, thán phục và bảo nhau: "Người là Đấng Tiên tri phải đến".
Tuy nhiên, trong những giờ phút tâm sự thân mật với các môn đệ, Người nói lui, nói tới về cái chết gần kề và thê thảm của Người : "Ta sẽ bị nộp trong tay kẻ dữ", "Ta sẽ bị treo lên". Mặc dầu Người có hứa : "Ngày thứ ba Ta sẽ sống lại". Các môn đệ không khỏi cảm thấy thất vọng hoang mang. Họ tìm cách ngăn chặn. Thế rồi Người nói Người phải chết. Lạ lùng thay, "Đấng cải tử hoàn sinh" như Người lại phải chết ? Biết trước phải chết trong cảnh nhục nhã ê chề, nhưng Người không lùi bước. Tối hôm đó Người giã từ môn đệ, cương quyết nói : "Giờ đã đến, chúng ta hãy ra đi". Đi đâu ? Đi để địch thù bắt, sỉ vả, đánh đòn, kết án, đóng đinh.
Tại sao Người phải lãnh cái chết ô nhuc như vậy ? Vì yêu nhân loại lỗi lầm, cả gan phạm tội đến Trời, vô phương cầu cứu, chỉ có Trời tha mới được, nên Chúa, chính là Ngôi Hai Thiên Chúa, đã phải chết. Không những cái chết của Người hoá giải với Chúa Cha mà còn thông ban hạnh phúc trường sinh bất diệt.
Ngày nay, tượng Thánh giá ngự trị khắp nơi kêu gọi chúng ta nhớ đến tình yêu cao cả, tình yêu cảm thông, tình yêu trong đau khổ, tình yêu cam lòng chịu mọi đoạn trường, để đạt đến sung mãn là được Phục sinh, đắm chìm trong Ba Ngôi Thiên Chúa. Người đã ra đi và không quên căn dặn : "Các con hãy rao giảng tin mừng cho muôn dân, rửa tội cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần".
Đó là những nét chấm phá bức chân dung Chúa dựa trên Kinh Thánh. Nhưng sứ điệp Người truyền lại, là cả một Lời hằng sống, linh hoạt, đang tiếp tục biến đổi truyền đạt và canh tân lòng người. Ngay cả những người ngoài Kitô giáo hay nghịch đạo cũng phải công nhận Đức Giêsu, Đấng phải đến.
Thượng viện Roma đã nhận được bức thư của Lentulus Publius, dưới triều Cesare Augusto, nguyên văn như sau : "Giờ này tại Yuda, có một người đạo hạnh lạ thường; thân hình cao lớn, đều đặn, dáng điệu hiền lành, khả kính; làn tóc đượm một màu sắc không thể sánh ví được, rẽ làm hai ngay từ đỉnh đầu như thói người Nazareth, thả xuống từng lọn và tung toé trên đôi vai một cách yêu kiều. Người có một vầng trán rộng và đều đặn. Đôi má ửng hồng khả ái. Mũi và miệng cân đối lạ thường. Râu dày và cùng màu với tóc dài đến phía dưới cằm một ít thì rẽ làm hai. Mắt Người sáng trong và đầy yên tĩnh. Trong lúc nói năng hoạt đông, Người làm mọi sự một cách thanh nhã và trang trọng. Người khiển trách một cách uy quyền, khuyến khích một cách nhẹ nhàng.Không khi nào thấy Người cười, nhưng thường thấy Người khóc. Người rất ôn hoà, rất khiêm tốn, rất khôn ngoan. Sau cùng, Người là con người trổi bật hơn cả các con cái loài người bởi vẻ đẹp cao cả của Người và những nét hoàn thiện siêu việt".
Chưa hết, chúng ta hãy cố đọc những dòng sau đây do Papini, một người Ý, từng là một chiến sĩ vô thần đã phá hoại đạo Công giáo không ít, nhưng sau đã hiểu biết Chúa Giêsu và đã viết : "Yuđa đã không bán Chúa chỉ với ba mươi đồng bạc và đã không hôn Chúa chỉ với một lần. Không biết bao biệt phái từ hai mươi thế kỷ nay đã kêu to : "Chúng tôi không cần ông Giêsu, hãy giết ông đi". Không biết bao nhiêu lần chúng tôi đã làm chảy máu lưng Chúa vì tiền, vì chức, vì tư lợi. Biết bao lần chúng tôi đã đóng đinh Chúa bởi ước muốn, bởi tư tưởng, hành động...Hỡi Đức Kitô, chúng tôi đã xua đuổi Người xa chúng tôi, vì Người quá trong sạch.. Chúng tôi đã quay mặt khỏi Người vì Người quá thánh thiện; chúng tôi kết án Người và đóng đinh Người vì Người đã lên án cuộc sống tôi lụy của chúng tôi. Và giờ đây, đang lúc chúng tôi lê thân trên vũng bùn xấu xa hôi hám, chúng tôi cảm thấy bị dày vò vì mơ tưởng đến Người, đến chỉ một mình Người. Chúng tôi thiếu có một điều, đó là Người. Kẻ đói, họ tưởng họ đói cơm bánh hay sao ? Không, họ đói chính Người. Kẻ khát, họ tưởng họ khát nước chăng ? Không, họ khát chính Người. Kẻ tìm kiếm sắc đẹp trên thế gian không biết rằng họ đang tìm Người là sắc đẹp muôn đời. Kẻ tìm kiếm chân lý thở than đeo đuổi Người vì Người là chân lý bất diệt. Kẻ mong mỏi an bình và ngóng chờ Người, vì Người là Đấng duy nhất có thể ban an nghỉ cho những tâm hồn thao thức. Trời đất, thịnh suy, vui buồn, cười khóc, tất cả kêu lên Người, hỡi Đức Giêsu khả ái. Xin Người hãy đến Bêlem, linh hồn chúng tôi đang chờ đợi. Lạy Đức Giêsu, xin hãy đến." Những dòng trên đây là một tiếng kêu cấp bách, một S.O.S của vô số người trong nhân loại. Thế thì tại sao quanh chúng ta vẫn còn bao nhiêu người chưa chịu nhận lấy sứ điệp cứu rỗi của Chúa, thậm chí có người hăng say chống đối Chúa Giêsu ? Cụ già Simeon nhìn ngắm trẻ Giêsu vừa mới lọt lòng mẹ được tám ngày, đã thấy tất cả dĩ vãng, hiện tại và tương lai mà ông đã tuyên bố : "Trẻ này sẽ là duyên cớ vấp phạm cho nhiều người, nhưng cũng là đà cho những người khác vươn dậy. Người sẽ là dấu của sự xung đột" (Lc 11,34).
Quả thế, nghe tin Người sinh ra, các đạo sĩ vội vượt đường xa đến thờ lạy, lúc ấy Herode gần đó lại sợ mất ngai vàng, tìm cách giết Người. Lúc các thiên thần hát an bình cho người dưới thế, thì lại hàng trăm con trẻ bị sát hại ở Belem. Người đời luôn bất đồng ý kiến với nhau về Lời Người. Kẻ tin, kẻ chống, kẻ theo, kẻ nghịch. Theo cho đến chết, nghịch cho đến sát hại không gớm tay. Người ta sẽ chọn Người hay chống lại Người, hạnh phúc hay đau khổ vì Người. Đó là định luật tất yếu của việc dung hoà giữa ân sủng và tự do.
Nhưng một vấn nạn khác được nêu lên : người thời đại ngày nay có thật sự cần Người không ? Con người ngày nay xem ra muốn vứt bỏ Chúa Kitô vì cho rằng Người không ích gì cho những tiến bộ của khoa học, kỹ thuật. Cơn lốc vô tín ngưỡng, vô thần đang hoành hành và tập trung mọi nổ lực để xoá mờ hình ảnh của Đức Kitô nơi các tâm hồn. Đổ máu đã một thời là phương pháp để xoá tên Đức Kitô trong nhân loại. Nhưng hiệu quả ngược lại lòng mong ước của các bạo chúa. Ngày nay người ta không thường đổ máu, mà phát minh những phương pháp tinh vi hơn. Như dèm pha, nói xấu, vu khống, chụp mũ, ly gián, phân sáp, đe doạ, khủng bố, gây hoảng hốt...Người ta tìm cách loại hình ảnh của Chúa Giêsu ra khỏi các tâm hồn bé thơ qua một nền giáo dục mệnh danh là giáo dục tôn trọng tự do kẻ khác. Thiên Chúa đã bị loại dần ra khỏi nhà trường, gia đình, xã hội. Thái độ lãnh đạm, thờ ơ với tôn giáo, tín ngưỡng làm cho những đầu óc non nớt nghĩ rằng tôn giáo là sản phẩm của dị đoan, mê tín. Nhưng con người đã lầm, đã đánh mất chân tính của mình khi tách mình khỏi Chúa Giêsu, Đấng phải đến, Đấng là tất cả cho mọi người. Từ ngày Người đến, Người đã đặt nhân loại trước ngã hai đường. Với Người hay chống lại Người. Với Người là chân lý, là ánh sáng, là tự do, là trật tự, là an bình, là tin tưởng, là hạnh phúc. Xa Người là ích kỷ, là dục vọng, là tàn ác, là nô lệ, là tội lụy, là khổ nhục.
Nhân loại ở bất cứ thời đại nào cũng phải cần Người, vì con người muốn giải thoát những khổ đau của cuộc đời và không tìm đâu ra sự giải thoát hữu hiệu, nếu không tìm đến Chúa Giêsu. Chúa Giêsu đã đem đến cho nhân loại một ý nghĩa mới của đau khổ. Người đã từng chịu đau khổ. Sinh ra trong cảnh hang lừa giá rét, bị thù ghét từ lúc mở mắt chào đời cho đến lúc trút hơi thở lìa đời. Người phải sống trong lao nhọc vất vả, trải qua nghìn nỗi gian truân, bị khinh chê, bị phản đối, bỏ vạ, cáo gian, giết chóc. Trên mặt Người đã in hình những cái tát nảy lửa, trên lưng Người đã chằng chịt những làn roi ác nghiệt, đôi tay Người có lằn dây trói buộc và lúc chết, cả thân xác Người máu me lem luốt cho đến nỗi kẻ qua đường phải ái ngại rùng mình : "Đây là người hay là một con sâu đất ?"
Đối với Người không phải chỉ chấp nhận đau khổ một cách tiêu cực mà phải cố gắng khắc phục. Tâm hồn Người rung động trước đau khổ của người khác. Người rùng mình và khóc trước mộ Lazaro, cảm thông sâu xa với bà goá thành Naim mất đứa con một và đã có lần tâm sự : "Ta xót thương dân này...Hỡi những ai khó nhọc và gánh nặng, hãy đến cùng ta".
Từ ngày Người đến trong lịch sử nhân loại, khổ đau mang một ý nghĩa mới, khổ đau nên nguồn vui tươi sáng cho người đàn bà mang nặng đẻ đau. Đau khổ hứa hẹn ngày mai phong phú của hạt giống chôn vùi trong lòng đất. Đau khổ là bảo chứng cho tình yêu thương, đau khổ càng nhiều, tình yêu thương càng mãnh liệt và không có tình yêu nào lớn lao cho bằng thí mạng sống cho người mình yêu. Với Đức Kitô, người ta không còn cho những kẻ bệnh tật, nghèo khó, bị bách hại là khốn nạn. Nhưng trái lại, Người đã tuyên bố : "Phúc cho những ai nghèo khó. Phúc cho những kẻ bị bắt, hành hạ, giết hại...vì hạnh phúc lớn lao của các con được dành trên trời".
Khi ghi lại bức chân dung Chúa Giêsu, một lần nữa chúng ta ý thức hơn rằng chúng ta có nhiều điểm rất tương đồng với Người. Người tuy là Thiên Chúa, nhưng Người rất gần gũi chúng ta. Người đã đi bước đầu và đã kết thúc bước cuối cùng trên con đường rao truyền sứ điệp cứu rỗi và yêu thương. Bổn phận chúng ta là dấn bước theo Người. Làm sao ghi đậm nét đời Người nơi chúng ta để những ai nhìn chúng ta sống, sinh hoạt, nói năng, người ta sẽ gặp thấy chính Chúa Giêsu đang sống, đang hoạt động, đang nói năng qua trung gian con người của chúng ta.
Chúng ta hãy trở thành con đường để Chúa Giêsu đến với mọi người, hãy trở thành con đường để mọi người đến với Chúa Giêsu. Con đường để cho Chúa và mọi người sử dụng, con đường mọi người đi qua hằng ngày và mọi người quên đi khi đạt đến đích điểm.
Anh chị em thân mến,
Đám dân đông đảo đến cùng Đức Giêsu để có của ăn: là biểu tượng cho những ai đói khát về phần thiêng liêng - qua đức tin - muốn đến cùng Đức Giêsu để xin Người thoa dịu cơn đói. Xác tín rằng chỉ mình Thiên Chúa mới có thể ban tặng cho chúng ta tấm bánh trường sinh, chúng ta cùng dâng lời cầu xin.
1) "Chúa Giêsu ngước mắt lên và thấy đám rất đông dân chúng đến với Người". - Chúng ta sốt sắng cầu xin Chúa mở rộng bàn tay ra và thi ân cho mọi sinh vật được no nê và xin cho mọi người biết khát khao tìm kiếm sự sống thần linh nơi Đức Kitô, Đấng cứu chuộc trần gian.
2) "Ở đây có một bé trai có năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá". - Xin cho các tín hữu luôn ý thức rằng cái làm no nê thỏa mãn lòng người không phải là số lượng sản vật tích lũy mà mỗi người chiếm hữu cho riêng mình, nhưng là ban phát chia xẻ các sản vật ấy cho tha nhân trong tình hiệp thông bác ái.
3) "Vì Chúa Giêsu biết rằng người ta sẽ đến bắt Người để tôn làm vua, nên Người lại trốn lên núi một mình". - Xin cho nhân loại ngày nay đang quay cuồng chạy theo của ăn vật chất, cũng biết mở rộng tâm hồn đón nhận hồng ân của Thiên Chúa và truy nhận Người là cùng đích đời mình.
4) "Anh em hãy hết lòng khiêm nhượng, hiền hậu, nhẫn nại, chịu đựng nhau trong đức ái". - Xin cho tình bác ái huynh đệ, hiệp nhất yêu thương luôn chan hòa tâm hồn chúng ta, để chúng ta có thể chia xẻ tình người cho tha nhân.
Lạy Chúa là Cha rất nhân từ, Ngay từ buổi sáng tạo, Chúa đã trao ban sự sống cho nhân loại và không ngừng săn sóc yêu thương mọi loài thọ sinh. Xin Chúa ban thêm Thần Khí tốt lành để hướng dẫn chúng con trên đường ngay nẻo chính, và cho chúng con biết noi theo lòng nhân hậu Chúa mà chia xẻ cho nhau tấm bánh của tình bác ái huynh đệ vô biên và chân thành. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con. |